Sưu tầm tư liệu về quá khứ của gia đình, quê hương em

Trả lời nhanh

Bài vận dụng Lịch sử 10 yêu cầu sưu tầm một số tư liệu liên quan đến quá khứ của gia đình, quê hương em, rồi viết một đoạn văn ngắn. Đoạn văn cần nói rõ em có những tư liệu gì, tư liệu ấy cho biết điều gì về ngày trước, và em cảm thấy thế nào khi biết những điều đó. Tư liệu dùng được gồm gia phả, ảnh cũ, giấy tờ, hiện vật, bia ký, di tích và lời kể của người lớn. Em ghi nguồn cho từng thứ và không bịa chi tiết mình không kiểm tra được.

Đề bài giao mấy việc

Đọc kỹ đề, em sẽ thấy ba việc chứ không phải một. Việc thứ nhất là sưu tầm. Việc thứ hai là viết đoạn văn giới thiệu chính những tư liệu ấy. Việc thứ ba là trả lời: qua tư liệu, em biết thêm gì về gia đình hoặc quê hương trong quá khứ, và cảm xúc của em ra sao.

Nếu em chỉ nộp một danh sách “gia phả, ảnh, đình làng” thì thiếu đoạn văn. Nếu em viết một bài ca ngợi quê hương mà không có tư liệu nào cụ thể thì thiếu yêu cầu sưu tầm. Nếu đoạn văn kể sự kiện mà không có câu nào nói em ngạc nhiên, tự hào, xót xa hay biết ơn, thì thiếu phần cảm xúc. Ba phần nên nằm trong cùng một đoạn, khoảng 150 đến 200 chữ, trừ khi giáo viên yêu cầu dài hơn.

Đề ghi “gia đình/quê hương”. Dấu gạch chéo có nghĩa em chọn một trong hai, hoặc kết hợp nếu tư liệu của em nối được việc nhà với việc làng. Không bắt buộc phải có đủ cả hai nếu nhà em không giữ gia phả. Một tập ảnh có năm chụp và lời kể của ông bà đã đủ để làm bài, miễn là em khai thác thật.

Nên sưu tầm những loại tư liệu nào

Sử liệu về gia đình và quê hương thường ít nằm trong sách in. Em tìm ở nhà, ở họ và ở địa phương. Xếp thành ba nhóm cho dễ trình bày.

Ba nhóm tư liệu: thành văn, hiện vật và lời kể
Hình 1. Gia phả và thư, ảnh cùng hiện vật, lời ông bà kể là ba nguồn em đối chiếu với nhau.
  • Tư liệu thành văn. Gia phả, sổ ghi giỗ, bằng khen, giấy khai sinh cũ, thư, bài báo địa phương, sách địa chí xã. Gia phả cho biết đời thứ mấy, quê gốc, người lập nghiệp, đôi khi cả lý do đổi họ hoặc chuyển làng.
  • Tư liệu hiện vật và hình ảnh. Ảnh cưới, ảnh lớp, ảnh mái nhà cũ, công cụ làm ruộng, bộ đồ nghề, bia ở đình, câu đối, ngôi mộ tổ, một đoạn thành hoặc một ngôi chợ cổ. Ảnh cần có chú thích: ai, ở đâu, khoảng năm nào. Không có năm thì ghi “theo bác em, khoảng những năm 1990”, đừng điền một năm cho tròn.
  • Tư liệu lời nói. Ông bà, bố mẹ, người trong họ, thầy cô đã dạy lâu năm ở trường làng. Em hỏi từng việc nhỏ: nhà cũ ở đâu, làm nghề gì, làng có hội nào, năm nào xây trường. Em ghi tên người kể và ngày em hỏi.

Ba nhóm này kiểm tra lẫn nhau. Lời kể nói tổ tiên từ một làng khác chuyển đến. Gia phả nếu còn sẽ cho biết đời nào chuyển. Ảnh và tên đường, tên xóm giúp em không nhầm địa danh. Chỉ một nguồn cũng viết được, nhưng em phải nói đó là lời kể hay là chữ trong gia phả, để người đọc biết mức độ chắc chắn.

Cách hỏi và cách ghi cho trung thực

Em chuẩn bị bốn câu trước khi ngồi với ông bà. Nhà mình ở đây từ đời nào? Trước đây làm nghề gì? Việc nào trong họ hoặc trong làng được người lớn nhắc nhiều nhất? Còn giữ vật gì, ảnh gì, giấy gì? Em để người kể nói hết một mạch, rồi mới hỏi lại chỗ chưa hiểu. Không cắt lời để sửa cho “hay”.

Mỗi tư liệu, em ghi năm dòng vào vở nháp:

  1. Tên tư liệu: ảnh, trang gia phả, câu chuyện, bia.
  2. Đang ở đâu: nhà ông nội, nhà thờ họ, đình làng.
  3. Ai cho em biết, vào ngày nào.
  4. Một sự kiện cụ thể rút ra được.
  5. Chỗ em chưa chắc, cần hỏi thêm.

Gia phả chép tay có thể sai đời, sai tên, vì có bản được nhớ lại sau khi bản gốc mất. Ảnh có thể bị ghi nhầm người. Lời kể thường làm tròn năm tháng và bỏ qua chi tiết bất lợi. Em được phép viết “gia đình kể lại rằng”, “trong ảnh thấy”, “sách địa phương ghi”. Em không viết những cụm ấy thành “lịch sử đã chứng minh” nếu em chỉ mới nghe một người nói.

Phần quê hương, em ưu tiên di tích và mốc mà cộng đồng cùng biết: năm xây đình, năm làng được công nhận một di sản, một nghề cổ còn ghi trong địa chí. Những mốc lớn của cả nước chỉ đưa vào nếu gia đình hoặc làng em thực sự dính vào, và em nói được dính bằng việc gì. Không lấy tiểu sử một danh nhân của tỉnh để thay cho tư liệu của chính nhà mình.

Đoạn văn mẫu về phố cổ Hội An

Bài mẫu dưới đây lấy phố cổ Hội An, Quảng Nam, làm quê hương minh họa, để em thấy cách gắn tư liệu với câu chuyện. Em thay bằng làng, phố và hiện vật của chính mình. Các mốc về Hội An là mốc chung, đã được ghi nhận: từ thế kỉ XVI đến XVII đây là thương cảng quốc tế; Chùa Cầu gắn với cộng đồng người Nhật từng sinh sống ở phố; năm 1999 khu phố cổ được UNESCO ghi vào Danh mục di sản thế giới.

Em sưu tầm được hai tư liệu về quê ngoại ở phố cổ Hội An. Tư liệu thứ nhất là bản chụp một trang gia phả họ ngoại, bác em đọc giúp vì trang ấy viết chữ khó. Trang gia phả cho biết tổ tiên lập nhà ven phố chừng bốn đời, làm nghề buôn nhỏ chứ không phải quan. Tư liệu thứ hai là tấm ảnh ông ngoại đứng trước Chùa Cầu, mặt sau ghi năm 1999, đúng năm khu phố cổ được công nhận là di sản thế giới. Ảnh cho thấy mái phố thấp, đường hẹp, và ông còn để xe đạp sát chân cầu. Qua hai tư liệu, em biết Hội An của ngày trước không chỉ là thương cảng sầm uất thế kỉ XVI–XVII, mà với nhà em nó còn là một phố nhỏ, người trong họ sống bằng cửa hiệu. Em thấy tự hào vì quê có một di sản cả nước gìn giữ, đồng thời thấy ơn vì ông bà đã giữ trang gia phả và tấm ảnh, nếu không thế hệ em chỉ biết Hội An qua bài trên mạng.

Em đếm trong đoạn mẫu: có tên tư liệu, có nguồn (bác đọc giúp, chữ trên mặt sau ảnh), có điều mới biết (nghề của họ, dáng phố năm 1999), có cảm xúc (tự hào và biết ơn). Đó là đủ đề. Nếu giáo viên yêu cầu ngắn hơn, em bỏ câu về thế kỉ XVI–XVII, giữ ảnh và gia phả.

Nếu nhà em chỉ có lời kể và một cuốn ảnh

Không phải nhà nào cũng có gia phả. Đoạn sau là cách viết khi tư liệu mỏng. Tình tiết bên trong là khung để em điền, không phải hồ sơ một gia đình có thật.

Em chưa tìm thấy gia phả, nhưng có cuốn ảnh bố cất trên gác và một buổi nói chuyện với bà nội tối chủ nhật tuần trước. Trong ảnh những năm chín mươi, nhà cũ mái ngói, trước ngõ là đường đất, ông nội chở bao lúa bằng xe đạp. Bà kể ngày ấy cả xóm gặt chung, tối ra sân phơi, trẻ con được giao việc xua gà. Em hiểu ngày trước gia đình sống bằng ruộng và bằng sự trông cậy của cả xóm, khác hẳn căn hộ em đang ở. Em hơi chột dạ vì bấy lâu cứ tưởng ông bà “ở quê” theo nghĩa chung chung. Giờ em muốn ghi tiếp tên những người trong ảnh trước khi bà không còn nhớ hết.

Đoạn này trung thực về mức tư liệu: nói thẳng là chưa có gia phả, cảm xúc là chột dạ rồi muốn ghi tiếp. Giáo viên đánh giá cao sự thật ấy hơn một đoạn văn bóng bẩy nhưng không có vật gì trong tay.

Lỗi làm bài bị trừ

  • Viết thành bài văn biểu cảm về “quê hương yêu dấu” mà không nêu một tư liệu nào.
  • Bịa năm, bịa chức tước, bịa chuyện ông bà tham gia một sự kiện lớn cho thêm bi tráng.
  • Chép nguyên một trang giới thiệu tỉnh từ sách hoặc từ mạng, rồi đổi chủ ngữ thành “em”.
  • Kể cảm xúc trước, tư liệu sau, khiến người đọc không thấy cảm xúc nảy ra từ đâu.
  • Dùng từ tuyệt đối: “duy nhất”, “chắc chắn từ đời Lý” khi trang gia phả không ghi như vậy.

Trước khi nộp, em soi ba chữ: tư liệu nào, biết được gì, cảm thấy gì. Thiếu chữ nào thì thêm một câu vào đúng chỗ ấy. Cuối đoạn, em có thể ghi trong ngoặc nguồn ngắn, ví dụ “ảnh lưu ở nhà ông nội; lời bà kể ngày 8-10-2026”. Nguồn không làm đoạn văn xấu đi. Nó cho thấy em đang học sử theo đúng cách: nói có căn cứ.

Câu hỏi thường gặp

Không có gia phả thì có làm được bài không?

Được. Ảnh cũ và lời kể của ông bà là đủ, miễn em ghi rõ đó là ảnh nào và ai kể.

Đoạn văn cần có những ý nào?

Ba ý: tư liệu em sưu tầm, điều tư liệu cho biết về quá khứ, và cảm xúc của em.

Có được bịa thêm cho đoạn văn hay không?

Không. Chỗ chưa chắc thì viết theo lời kể hoặc ghi là chưa rõ, đừng đặt năm và chức tước cho đủ bi tráng.

Quê hương và gia đình có phải viết cả hai không?

Đề cho phép chọn một trong hai. Em kết hợp khi tư liệu nhà nối được với chuyện của làng.

Vì sao phải ghi nguồn?

Vì lịch sử nói có căn cứ. Ghi ai kể, ảnh ở đâu, giúp người đọc biết điều gì là chắc và điều gì mới là lời nhớ.