Câu 7 trang 13 SBT Ngữ văn 8 Tập 2: Đọc hiểu bài thơ Tiến sĩ giấy

Trả lời nhanh

Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, mượn hình nộm ông nghè bằng giấy (đồ chơi Trung thu) để châm biếm bọn hữu danh vô thực trong buổi khoa cử suy tàn thời thực dân – phong kiến. Bài thơ còn có ý vị tự trào vì chính tác giả là một ông nghè thật tài nhưng bất lực trước thời cuộc.

Văn bản bài thơ

Trước khi trả lời, em đọc kĩ lại bài thơ (Nguyễn Khuyến, 1835 – 1909, nên tác phẩm không còn vướng bản quyền):

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!

Chú ý ba từ khó: cân đai (mũ và đai của quan), giáp bảng (bảng ghi tên người đỗ tiến sĩ), văn khôi (người đứng đầu về văn chương). Còn hời nghĩa là rẻ, được lợi quá mức.

a) Nội dung và hoàn cảnh sáng tác

Ông tiến sĩ giấy là món đồ chơi dựng cho trẻ em trong đêm Trung thu: có mũ, áo, ghế, lọng như một ông nghè thật. Nguyễn Khuyến lấy hình nộm ấy để nói về những kẻ mang danh khoa bảng mà rỗng tuếch bên trong.

  • Nội dung: phê phán thói hư danh, mỉa mai chuyện thi cử sa sút, mua danh bán chức; đồng thời xót xa cho nền thực học.
  • Hoàn cảnh: nửa cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp từng bước đặt ách đô hộ, bộ máy phong kiến chỉ còn là bù nhìn, khoa cử xuống cấp. Tác giả đã về ở ẩn nơi quê nhà. Em không cần nhớ năm cụ thể, chỉ cần nêu đúng bối cảnh này.

b) Bố cục, thể thơ và dấu hiệu nhận biết

Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 7 chữ nên là thất ngôn bát cú Đường luật. Bố cục theo SBT chia 3 phần (em cũng có thể chia 4 phần đề – thực – luận – kết đều được chấp nhận nếu giải thích rõ):

  • Hai câu đề (1–2): giới thiệu ông nghè giấy cũng đủ cờ, biển, cân đai, “không kém ai”.
  • Bốn câu thực và luận (3–6): bóc trần bản chất, thân xác bằng giấy, danh vọng rẻ mạt.
  • Hai câu kết (7–8): lời nhận xét chua chát, “đồ thật” hoá “đồ chơi”.
Dấu hiệu Biểu hiện trong bài
Số câu, số chữ 8 câu, mỗi câu 7 chữ
Bố cục Đề – thực – luận – kết
Vần Gieo vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (đai, ai, khôi, hời, chơi)
Đối Câu 3–4 đối nhau, câu 5–6 đối nhau
Nhịp Thường ngắt 4/3

Mẹo nhớ: thất ngôn bát cú thì “thực – luận phải đối”, còn đề và kết không bắt buộc đối.

c) Ý nghĩa trào phúng của phép đối và ngôn từ

Em có thể phân tích theo ba bước: chỉ ra cặp đối, nêu sự tương phản, rồi nói tác dụng.

  • Câu thực: “Mảnh giấy” đối “Nét son”, “làm nên” đối “điểm rõ”, “thân giáp bảng” đối “mặt văn khôi”. Một bên là thứ mỏng manh rẻ tiền, một bên là danh hiệu cao quý, nên hai vế càng gần nhau càng thấy nực cười: vinh quang chỉ do giấy và vết son tô nên.
  • Câu luận: “Tấm thân xiêm áo” đối “Cái giá khoa danh”, “sao mà nhẹ” đối “ấy mới hời”. Thân nhẹ tênh vì là giấy, danh giá cũng “hời” vì rẻ; cả hai cùng nói sự rỗng nhẹ, vô giá trị.
  • Ngôn từ: dùng từ bình dân, gần khẩu ngữ như “hời”, “bảnh chọe”, “có kém ai”. Các cụm “mảnh giấy”, “nét son”, “tấm thân”, “cái giá” đứng đầu câu để nhấn mạnh vẻ hình thức. Giọng thơ nhờ vậy vừa dí dỏm vừa chua cay.

Lỗi hay gặp: chỉ chép lại nghĩa từng câu mà không nói được vì sao đối lại gây cười. Điểm quan trọng nhất là sự tương phản giữa danh hiệu trang nghiêm và chất liệu bằng giấy.

d) Vì sao bài thơ có ý vị tự trào?

Tự trào là lấy chính mình làm đối tượng để cười. Nguyễn Khuyến không đứng ngoài chê bai, vì chính ông cũng là một ông nghè, đỗ đầu cả ba kì thi nên được gọi là Tam nguyên.

  • Ông là người có thực tài, nhưng sống dưới chế độ bù nhìn, khó làm được gì cho dân cho nước. Cái danh khoa bảng ấy trong thời loạn cũng thành bất lực.
  • Câu kết “Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi” có thể hiểu là lời thở dài: tiến sĩ thật mà nay cũng chỉ như đồ chơi, trong đó có cả ông.
  • Tiếng cười vì thế vừa đả kích kẻ khác vừa chua xót cho bản thân, nên thâm trầm chứ không hằn học.

e) Gợi ý đoạn văn: danh và thực

Đoạn mẫu (em diễn đạt lại bằng giọng văn của mình):

Bài thơ Tiến sĩ giấy nhắc em rằng danh hiệu chỉ có giá trị khi đi cùng thực lực. Một tấm bằng, một chức danh nếu không có kiến thức và đạo đức đứng sau thì cũng nhẹ như tờ giấy, chạm gió là bay. Trong học tập, nếu chỉ chạy theo điểm số, học vẹt, sao chép bài bạn để có “thành tích đẹp”, em sẽ giống ông nghè giấy: bề ngoài sáng chói mà bên trong trống rỗng. Ngược lại, khi chăm chỉ rèn năng lực thật, danh hiệu sẽ đến như hệ quả tự nhiên. Vì vậy em chọn lấy “cái thực” làm gốc, còn “cái danh” chỉ là điều ghi nhận.

Luyện tập thêm

  1. Chỉ ra cặp từ đối nhau trong câu “Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ / Cái giá khoa danh ấy mới hời”.
    Đáp án: tấm thân xiêm áo – cái giá khoa danh; sao mà nhẹ – ấy mới hời.
  2. Từ “đồ chơi” ở câu cuối có ý nghĩa gì?
    Đáp án: vừa nghĩa đen (món đồ chơi Trung thu), vừa nghĩa bóng (những kẻ, những danh vị chỉ để trưng, không có giá trị thực).
  3. Câu 1 và câu 2 thuộc phần nào, có bắt buộc đối không?
    Đáp án: phần đề; không bắt buộc đối.

Xem thêm trong bài 7

  • Câu 1 trang 13: biểu hiện trào phúng của Vịnh khoa thi Hương
  • Câu 1 trang 14: bài thơ tiếp theo
  • Toàn bộ SBT Văn 8 Bài 7: Thơ Đường luật

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Tiến sĩ giấy được viết theo thể thơ nào?

Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần bằng ở các câu 1, 2, 4, 6, 8, hai cặp câu thực và luận đối nhau.

Tiến sĩ giấy phê phán điều gì?

Bài thơ phê phán thói hư danh, tình trạng khoa cử suy tàn, những kẻ mang danh đỗ đạt cao nhưng không có thực chất trong xã hội thực dân – phong kiến.

Vì sao nói bài thơ có ý vị tự trào?

Vì Nguyễn Khuyến cũng là ông nghè (Tam nguyên). Ông cười kẻ khác đồng thời chua xót cho chính mình, một người có tài nhưng bất lực trước thời cuộc.

Phép đối trong hai câu thực và luận có tác dụng gì?

Phép đối tạo sự tương phản giữa danh hiệu cao quý và chất liệu giấy mỏng nhẹ, làm nổi bật tính hình thức, rỗng tuếch của ông nghè và tăng sắc thái trào phúng.