Giễu người thi đỗ (Trần Tế Xương): giải câu 8 trang 12 SBT Văn 8 Cánh diều

Trả lời nhanh

“Giễu người thi đỗ” của Trần Tế Xương là bài thất ngôn tứ tuyệt Đường luật trào phúng. Bài thơ chế giễu cảnh các ông cử tân khoa quỳ lạy vợ chồng viên công sứ Pháp trong lễ tạ ơn vua. Hai câu cuối dùng phép đối và hình ảnh tương phản để phơi bày sự nhục nhã của khoa cử thời thuộc địa. Qua đó, nhà thơ gửi vào bài nỗi chua chát và xót xa của một người có học.

Bài thơ và hoàn cảnh ra đời

Đây là bài thơ trong câu 8 trang 12 SBT Ngữ văn 8 tập 2 (Cánh diều), thuộc Bài 7: Thơ Đường luật. Nguyên văn như sau:

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không?
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng.

Bài thơ làm nhân khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở trường thi Hà – Nam (Nam Định). Trong lễ bái mạng (tạ ơn vua), vợ chồng viên công sứ Pháp ngồi chễm chệ ở nơi tôn nghiêm. Các ông cử tân khoa cúi đầu quỳ lạy, vô tình thành ra lạy cả “ông Tây, bà đầm”. Tú Xương bắt lấy khoảnh khắc ấy để viết bài thơ.

Gợi ý giải từng ý

a) Bài thơ viết về điều gì?

Bài thơ viết về cảnh những người vừa thi đỗ trong khoa thi Hương được mọi người nhìn ngắm. Nhưng niềm vinh quang ấy bị phá hỏng, vì họ phải quỳ lạy trước kẻ đại diện cho chính quyền bảo hộ. Tác giả giễu những người đỗ, đồng thời chua xót cho nền khoa cử và cho cảnh mất nước.

b) Dấu hiệu của thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

  • Số câu, số chữ: 4 câu, mỗi câu 7 chữ.
  • Vần: gieo vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4 (trông – không – rồng), cùng vần “ong/ông”.
  • Nhịp: chủ yếu 4/3, ví dụ “Một đàn thằng hỏng / đứng mà trông”.
  • Luật bằng trắc: bài làm theo luật bằng, vần bằng. Chữ thứ 2, 4, 6 của câu 1 là bằng – trắc – bằng (đàn – hỏng – mà). Câu 2 ngược lại: trắc – bằng – trắc (đỗ – này – sướng). Câu 3 giống câu 2, câu 4 giống câu 1, nên các câu niêm với nhau đúng quy tắc.
  • Đối: hai câu thực (câu 3) và kết (câu 4) đối nhau.

Mẹo nhớ: muốn nhận ra thể tứ tuyệt, hãy đếm “4 câu – 7 chữ – vần ở câu 1, 2, 4”. Rồi kiểm tra chữ thứ 2, 4, 6 của từng câu.

c) Tính chất trào phúng thể hiện qua những hình ảnh nào?

  • “Một đàn thằng hỏng”: cách gọi suồng sã, coi thường, gợi cảnh đám thí sinh trượt đứng chen nhau xem.
  • “Nó đỗ khoa này có sướng không?”: câu hỏi tu từ mang giọng mỉa mai. Bề ngoài như hỏi, thực chất là khẳng định không có gì đáng sướng.
  • “Bà đầm ngoi đít vịt”: hình ảnh lố lăng, kệch cỡm của người đại diện cho kẻ cai trị. Cụm “đít vịt” gợi dáng váy phồng phía sau, vừa tả thực vừa châm biếm.
  • “Ông cử ngỏng đầu rồng”: người đỗ đạt được ví với “đầu rồng”, nhưng lại ngỏng đầu quỳ lạy ngoại bang. Danh vị càng cao thì cảnh ấy càng lố bịch.

d) Nghệ thuật đối và so sánh ở hai câu cuối

Câu 3 Câu 4 Tác dụng
Trên ghế Dưới sân Đối vị trí: kẻ ngồi cao, người quỳ thấp.
bà đầm ông cử Đối nhân vật: kẻ ngoại bang và người đỗ đạt.
ngoi ngỏng Đối động từ, gợi dáng vẻ lố lăng, lấc láo.
đít vịt đầu rồng Đối hình ảnh: thấp hèn / cao quý, tạo sự mỉa mai.

Danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, thanh bằng trắc cũng đối (ngoi bằng – ngỏng trắc; đít trắc – đầu bằng). Nhờ đó hai câu cân xứng chặt chẽ. Đồng thời, hai vế đặt cạnh nhau như một phép so sánh ngầm. Người mang danh “đầu rồng” lại phải cúi lạy kẻ có dáng “đít vịt”, nên danh vị khoa cử bị hạ thấp ngay trong chính nghi lễ vinh danh nó.

e) Tâm trạng của Trần Tế Xương

Tâm trạng của tác giả gồm ba lớp cảm xúc:

  • Chua chát, mỉa mai trước cảnh người đỗ đạt chẳng còn gì đáng tự hào.
  • Nhục nhã, xót xa của người có học khi thấy sĩ phu quỳ lạy kẻ đang cai trị đất nước.
  • Cay đắng riêng tư của một người thi trượt. Câu “một đàn thằng hỏng” có cả bóng dáng tự giễu, vì ông nhiều lần hỏng thi.

Điều đáng quý là tiếng cười của Tú Xương không hả hê. Nó đau đáu nỗi buồn thời cuộc, nên bài thơ vừa trào phúng vừa trữ tình.

Lỗi sai thường gặp khi làm bài

  • Chỉ nói “bài thơ chế giễu người thi đỗ” mà quên nguyên nhân sâu xa: họ quỳ lạy kẻ đại diện chính quyền thực dân.
  • Ở ý b, kể “có vần, có nhịp” chung chung mà không dẫn chứng cụ thể từ bài thơ.
  • Ở ý d, chỉ chép lại từng từ mà không chỉ ra tác dụng: đối để tạo tương phản, từ đó tăng sức châm biếm.
  • Hiểu tâm trạng tác giả chỉ là “ghen tức vì thi trượt”. Thực ra đó là nỗi đau của người có học trước vận nước.

Bài luyện tập có đáp án

Bài 1. Xác định chữ gieo vần trong bài thơ.
Đáp án: trông (câu 1), không (câu 2), rồng (câu 4). Câu 3 không gieo vần, đúng với thể tứ tuyệt.

Bài 2. Câu “Nó đỗ khoa này có sướng không?” thuộc biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng.
Đáp án: Câu hỏi tu từ. Câu hỏi không cần trả lời, nhằm bộc lộ giọng mỉa mai và phủ định niềm vui đỗ đạt.

Bài 3. Viết 3–4 câu nêu cảm nhận về hình ảnh “ông cử ngỏng đầu rồng”.
Gợi ý: “Đầu rồng” gợi sự cao quý của người đỗ đạt, nhưng đi với “ngỏng” lại thành dáng vẻ gượng gạo, rất tương phản. Hình ảnh cho thấy người học trò xưa vốn được tôn trọng giờ phải khom lưng trước kẻ ngoại bang, khiến tiếng cười trở nên cay đắng.

Xem thêm

  • SBT Ngữ văn 8 Bài 7: Thơ Đường luật
  • Câu 1 trang 13: Biểu hiện trào phúng của Vịnh khoa thi Hương
  • Giải SBT Ngữ văn 8 Cánh diều

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Giễu người thi đỗ của ai, làm theo thể thơ nào?

Bài thơ của Trần Tế Xương (Tú Xương), làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: 4 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần bằng ở các câu 1, 2, 4.

Bài thơ Giễu người thi đỗ chế giễu điều gì?

Bài thơ chế giễu cảnh các ông cử tân khoa quỳ lạy vợ chồng viên công sứ Pháp trong lễ tạ ơn vua. Qua đó tác giả phê phán sự nhục nhã của khoa cử thời thuộc địa.

Hai câu cuối bài thơ dùng nghệ thuật gì?

Hai câu cuối dùng phép đối: trên ghế/dưới sân, bà đầm/ông cử, ngoi/ngỏng, đít vịt/đầu rồng. Các hình ảnh tương phản làm tăng tính mỉa mai, châm biếm.

Tâm trạng của Trần Tế Xương trong bài thơ là gì?

Đó là tâm trạng chua chát, nhục nhã và xót xa của người có học trước cảnh sĩ phu quỳ lạy kẻ cai trị. Trong đó còn có nỗi cay đắng riêng của người thi trượt.