Trả lời nhanh
Sách Ngữ văn 8 Cánh Diều chia mười bài, năm bài mỗi học kì. Học kì một đi từ truyện ngắn, thơ sáu chữ bảy chữ, văn bản thông tin, hài kịch và truyện cười tới nghị luận về đất nước. Học kì hai có truyện, thơ Đường luật, truyện lịch sử và tiểu thuyết, nghị luận văn học, rồi văn bản thông tin về phim và sách. Trang này là mục lục tác giả, tác phẩm: mỗi dòng dẫn tới bài riêng, không thay cho việc đọc văn bản trong sách.
Bộ sách xếp bài theo thể loại
Mỗi bài học gom vài văn bản cùng một cách đọc. Bài truyện thì em tìm nhân vật, tình huống và điều người kể muốn để lại. Bài thơ thì em tìm thể thơ, hình ảnh và mạch cảm xúc, không tóm thơ thành một câu đạo đức. Bài văn bản thông tin thì em tách sự kiện khỏi lời bình, xem số liệu phục vụ câu hỏi nào. Bài nghị luận thì em tìm luận điểm, lí lẽ và bằng chứng. Nhầm cách đọc là nhầm cả bài: lấy thơ Đường luật để kể cốt truyện, hoặc lấy truyện cười để học thuộc một thông điệp, đều lệch yêu cầu.
Tên tác giả dưới đây theo đúng bài trong mục lục. Với văn bản thông tin, mục lục cũ không ghi một tên người soạn, nên em không bịa thêm. Với truyện cười dân gian, em ghi là tác phẩm khuyết danh nếu sách không đề tên. Khi cần tiểu sử, em chỉ giữ những mốc giúp hiểu bài: thời tác giả sống, thể loại sở trường, và hoàn cảnh ra đời nếu sách có nói. Chép một trang tiểu sử không làm bài đọc hiểu dài hơn về nghĩa.

Học kì một: từ truyện ngắn tới nghị luận
Bài 1. Truyện ngắn
Ba truyện nhìn trẻ em và người lớn trong đời thường. Tôi đi học của Thanh Tịnh là hồi ức ngày tựu trường, giọng nhớ chứ không phải bài kể cho vui. Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam xoay quanh một cử chỉ ấm giữa lúc tiết chuyển. Người mẹ vườn cau của Nguyễn Ngọc Tư gắn hình người mẹ với mảnh vườn và cách kể của văn xuôi Nam Bộ. Em đọc để thấy tình huống, không để chép nguyên đoạn văn vào vở.
- Tác giả – tác phẩm: Tôi đi học
- Tác giả – tác phẩm: Gió lạnh đầu mùa
- Tác giả – tác phẩm: Người mẹ vườn cau
Bài 2. Thơ sáu chữ, bảy chữ
Ba bài không phải thơ Đường luật, nên em không đi tìm niêm, đối. Nắng mới của Lưu Trọng Lư dùng hình ảnh nắng và sắc áo để nói một cảm giác đổi mùa, đổi đời. Nếu mai em về Chiêm Hóa của Mai Liễu là lời nhắn về một vùng đất ở Tuyên Quang. Đường về quê mẹ của Đoàn Văn Cừ đi theo con đường và những hình ảnh quê. Với thơ, em trích một hình ảnh ngắn khi phân tích, không chép cả bài.
- Tác giả – tác phẩm: Nắng mới
- Tác giả – tác phẩm: Nếu mai em về Chiêm Hóa
- Tác giả – tác phẩm: Đường về quê mẹ
Bài 3. Văn bản thông tin
Ba văn bản luyện cách đọc thông tin. Sao băng giải thích một hiện tượng trên bầu trời. Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI đặt vấn đề môi trường bằng số liệu và dự báo, em cần phân biệt điều đã đo với điều được cảnh báo. Lũ lụt là gì? – Nguyên nhân và tác hại có cấu trúc định nghĩa, nguyên nhân, hậu quả. Em trả lời bằng ý trong bài, có dẫn chỗ, không thêm chi tiết bên ngoài cho “cho đủ ý”.
- Tác giả – tác phẩm: Sao băng
- Tác giả – tác phẩm: Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI
- Tác giả – tác phẩm: Lũ lụt là gì? – Nguyên nhân và tác hại
Bài 4. Hài kịch và truyện cười
Tiếng cười ở bài này có đối tượng, không phải câu đùa vu vơ. Đổi tên cho xã của Lưu Quang Vũ cười cách đặt tên hình thức, nghe cho oai mà lệch việc làng xã cần. Cái kính của Thanh Tịnh dựng tình huống quanh một đồ vật nhỏ. Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trích kịch của Mô-li-e, cười thói học đòi vẻ sang. Thi nói khoác là truyện cười về lời khoe không kiểm được. Em chỉ cần tình huống gây cười và điều tiếng cười nhắm vào, không kể lại toàn bộ lời thoại.
- Tác giả – tác phẩm: Đổi tên cho xã
- Tác giả – tác phẩm: Cái kính
- Tác giả – tác phẩm: Ông Giuốc – đanh mặc lễ phục
- Tác giả – tác phẩm: Thi nói khoác
Bài 5. Nghị luận về đất nước
Bốn văn bản bàn việc nước ở hai thời. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là lời hiệu triệu trước giờ chiến, giọng thôi thúc chứ không phải bài kể sử. Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi khẳng định nền độc lập và cương vực. Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn trình bày lí do chuyển kinh đô. Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ? của Dương Trung Quốc đặt lại câu hỏi về tầm vóc đất nước bằng cách nhìn hiện đại. Khi học cụm này, em giữ đúng mạch lịch sử: độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, trong đó có chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
- Tác giả – tác phẩm: Hịch tướng sĩ
- Tác giả – tác phẩm: Nước Đại Việt ta
- Tác giả – tác phẩm: Chiếu dời đô
- Tác giả – tác phẩm: Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?
Học kì hai: truyện, thơ luật và bài viết về tác phẩm
Bài 6. Truyện
Lão Hạc của Nam Cao đặt một người nông dân nghèo trước lựa chọn với con chó và với lòng tự trọng. Em phân tích tình huống và cách người kể nhìn nhân vật, không biến truyện thành bài học đạo đức một câu. Trong mắt trẻ trích Hoàng tử bé của Xanh-tê-xu-pe-ri, nhìn người lớn từ con mắt trẻ. Người thầy đầu tiên của Ai-tơ-ma-tốp kể về một thầy giáo và những học trò nơi vùng núi. Ba truyện khác không gian nhưng cùng hỏi: người lớn để lại gì cho một đứa trẻ.
- Tác giả – tác phẩm: Lão Hạc
- Tác giả – tác phẩm: Trong mắt trẻ
- Tác giả – tác phẩm: Người thầy đầu tiên
Bài 7. Thơ Đường luật
Bốn bài để em nhận luật: bảy tiếng một câu, vần, niêm, và phép đối ở câu thực, câu luận khi bài đủ niêm luật. Mời trầu của Hồ Xuân Hương nói chuyện mời trầu mà ý không dừng ở miếng trầu. Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương cười cảnh thi cử. Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch là thơ đường luật dịch, em chú ý hình ảnh dòng thác hơn là đối chiếu nguyên tác từng chữ. Cảnh khuya của Hồ Chí Minh vẽ cảnh đêm và nỗi niềm người thức. Bài 9 sẽ quay lại Cảnh khuya và Lão Hạc bằng một bài nghị luận, nên em nên đọc kỹ hai văn bản này trước.
- Tác giả – tác phẩm: Mời trầu
- Tác giả – tác phẩm: Vịnh khoa thi Hương
- Tác giả – tác phẩm: Xa ngắm thác núi Lư
- Tác giả – tác phẩm: Cảnh khuya
Bài 8. Truyện lịch sử và tiểu thuyết
Quang Trung đại phá quân Thanh nằm trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Mục lục cũ không có đường dẫn riêng cho hồi này, nhưng bài vẫn thuộc sách: em đọc diễn biến trận Ngọc Hồi, Đống Đa và cách văn kể tôn người chủ tướng. Đánh nhau với cối xay gió trích tiểu thuyết của Mi-ghen đờ Xéc-van-tét, tình huống hiệp sĩ đánh vào cối xay gió. Bên bờ Thiên Mạc của Hà Ân là truyện lịch sử về một không gian sông nước trong kháng chiến. Em phân biệt truyện lịch sử, vốn bám một sự kiện có thật, với tiểu thuyết, vốn dựng nhân vật hư cấu trên một bối cảnh.
- Quang Trung đại phá quân Thanh (Ngô gia văn phái) — có trong sách, mục lục cũ không kèm trang riêng
- Tác giả – tác phẩm: Đánh nhau với cối xay gió
- Tác giả – tác phẩm: Bên bờ Thiên Mạc
Bài 9. Nghị luận văn học
Ba bài viết về tác phẩm, dùng để học cách nghị luận chứ không để thuộc lời khen. Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya của Lê Trí Viễn chỉ ra cái đẹp của bài thơ Bác Hồ mà em đã học ở bài 7. Chiều sâu của truyện Lão Hạc của Ngô Văn Giá đi vào chiều sâu tâm lí, không dừng ở tóm tắt. Nắng mới, áo đỏ và nụ cười đen nhánh của Lê Quang Hùng nối bài thơ của Lưu Trọng Lư với một hình ảnh đời sống. Khi viết theo kiểu này, em cần luận điểm, dẫn một chi tiết trong tác phẩm, rồi mới bình. Không có chi tiết thì đoạn bình chỉ là tính từ.
- Tác giả – tác phẩm: Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya
- Tác giả – tác phẩm: Chiều sâu của truyện Lão Hạc
- Tác giả – tác phẩm: Nắng mới, áo đỏ và nụ cười đen nhánh
Bài 10. Văn bản thông tin về tác phẩm
Ba văn bản giới thiệu một tác phẩm khác, không phải chính tác phẩm ấy. Lá cờ thêu sáu chữ vàng được giới thiệu như sách thiếu nhi còn đọc được lâu. Bộ phim Người cha và con gái là văn bản thông tin về phim, em tách tên phim, người làm và điều bài viết muốn người đọc chú ý. Cuốn sách Chìa khóa vũ trụ của Gioóc-giơ giới thiệu một sách khoa học viết cho bạn đọc trẻ. Em trả lời theo văn bản giới thiệu: đối tượng đọc, nội dung khái quát, lí do được đưa vào bài học.
- Tác giả – tác phẩm: Lá cờ thêu sáu chữ vàng – tác phẩm không bao giờ cũ dành cho thiếu nhi
- Tác giả – tác phẩm: Bộ phim Người cha và con gái
- Tác giả – tác phẩm: Cuốn sách Chìa khóa vũ trụ của Gioóc-giơ
Cách dùng mục lục và các môn cùng bộ sách
Em chọn đúng bài đang học, mở một dòng, đọc phần tác giả và thể loại trước khi làm câu hỏi. Trang mục lục không chứa lời giải từng câu sách giáo khoa. Nếu đề hỏi “nêu nội dung”, em viết ba đến năm câu theo tình huống hoặc luận điểm, không tải nguyên văn. Nếu đề hỏi so sánh hai văn bản trong cùng bài, em chỉ so cái sách yêu cầu: cùng thể loại, khác đối tượng, hoặc cùng một hình ảnh mà cách nói khác nhau.
Các trang môn khác của lớp 8, bộ Cánh Diều, nằm ở cuối mục lục cũ. Em chỉ mở khi cần môn đó, không trộn vào bài đọc hiểu Ngữ văn.
- Giải sgk Toán 8 – Cánh diều
- Soạn văn 8 – Cánh diều
- Giải sgk Tiếng Anh 8 – Cánh diều
- Giải sgk Công ngệ 8 – Cánh diều
- Giải sgk GDCD 8 – Cánh diều
- Giải sgk Tin học 8 – Cánh diều
- Giải sgk Lịch sử & Địa lí 8 – Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 – Cánh diều
- Giải SGK Hoạt động trải nghiệm 8 – Cánh diều
Câu hỏi thường gặp
Ngữ văn 8 Cánh Diều có bao nhiêu bài?
Có mười bài, mỗi học kì năm bài. Học kì một từ truyện ngắn đến nghị luận về đất nước. Học kì hai từ truyện và thơ Đường luật đến văn bản thông tin về phim, sách.
Quang Trung đại phá quân Thanh thuộc bài nào?
Thuộc bài 8, truyện lịch sử và tiểu thuyết, trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Mục lục cũ không có đường dẫn riêng cho hồi này.
Tôi đi học và Cái kính có cùng tác giả không?
Cùng ghi tên Thanh Tịnh. Tôi đi học là truyện ngắn ở bài 1. Cái kính là truyện cười ở bài 4.
Thơ Đường luật trong sách nằm ở bài nào?
Ở bài 7: Mời trầu, Vịnh khoa thi Hương, Xa ngắm thác núi Lư và Cảnh khuya. Bài 2 là thơ sáu chữ, bảy chữ, không học theo niêm luật.
Trang mục lục có thay bài soạn chi tiết không?
Không. Trang này giúp em mở đúng văn bản. Phần đọc hiểu, tác giả và câu hỏi nằm ở từng trang con.