Quang Trung đại phá quân Thanh: tác giả, tóm tắt, bố cục

Trả lời nhanh

Quang Trung đại phá quân Thanh là đoạn trích hồi thứ mười bốn của tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí, do Ngô gia văn phái viết bằng chữ Hán. Đoạn kể Nguyễn Huệ lên ngôi ở núi Bân ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), tiến ra Bắc và kéo vào Thăng Long trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), sớm hơn hạn mùng 7 đã hẹn với tướng sĩ.

Tác giả Ngô gia văn phái

Ngô gia văn phái là một dòng họ viết văn ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Họ Ngô Thì có truyền thống học hành và trước tác nhiều đời. Người đời sau gom sáng tác của dòng họ này thành một phái, không phải một cá nhân ký tên dưới từng trang.

Hai cây bút chính gắn với Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô Thì Chí (1753–1788) và Ngô Thì Du (1772–1840). Ngô Thì Chí từng làm quan thời Lê Chiêu Thống và mất năm 1788, đúng lúc biến cố quân Thanh vào Thăng Long đang diễn ra. Ngô Thì Du làm quan dưới triều Nguyễn và tiếp tục phần sau của bộ sách. Vì vậy tác phẩm không phải nhật ký viết ngay trong một đêm trận, mà là công trình nhiều tay, chép lại một quãng lịch sử từ cuối thời Lê sang đầu thời Nguyễn.

Khi học bài, em không cần thuộc cả gia phả. Em cần nhớ ba ý: tác giả là một dòng họ, thể chữ Hán, và người chép đứng ở khoảng cách của người kể sử chứ không phải của một nhân vật trong trận.

Thể loại, xuất xứ và cách kể

Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết lịch sử theo lối chương hồi, khoảng 17 hồi. Mỗi hồi có một cặp câu mở nêu hai việc đối nhau. Hồi chứa đoạn trích đặt cạnh nhau cuộc thua ở Ngọc Hồi và việc Lê Chiêu Thống rời Thăng Long. Tên gọi thường dùng trong sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức chính là tên đoạn trích em đang học, lấy từ hồi ấy.

Bộ sách được viết trong một thời gian dài, cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX. Phần việc lớn mà các tác giả muốn ghi là sự thống nhất đất nước ở thời điểm nhà Tây Sơn diệt họ Trịnh, rồi cuộc chống quân Thanh do Nguyễn Huệ chỉ huy. Đoạn trích không kể cả đời Nguyễn Huệ. Nó bắt từ lúc tin cấp báo vào Phú Xuân đến lúc kinh thành thất thủ về phía quân Thanh.

Phương thức biểu đạt chủ yếu là tự sự. Người kể đứng ở ngôi thứ ba, biết việc ở cả hai phe: bên Nguyễn Huệ thì có lời bàn của tướng sĩ, lời dụ quân, lệnh xuất phát; bên quân Thanh và vua Lê thì có cảnh tiệc tùng, cảnh bỏ chạy, cảnh cầu phao đứt. Ngôi kể này cho phép đảo cảnh rất nhanh, đúng thói quen tiểu thuyết chương hồi.

Tóm tắt đoạn trích

Lê Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị đưa quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở cho quân Tây Sơn lui về Tam Điệp để giữ lực lượng, đồng thời sai người cấp báo vào Nam. Nguyễn Huệ họp tướng, nghe lời khuyên hãy lên ngôi cho danh nghĩa vững rồi mới ra quân. Ông làm lễ ở núi Bân, lấy niên hiệu Quang Trung, xuất quân ngày 25 tháng Chạp.

Ngày 29, đại quân tới Nghệ An. Nguyễn Thiếp được vời vào bàn việc đánh giữ và nói chuyến này không quá mười ngày quân Thanh sẽ tan. Nhà vua tuyển thêm lính, duyệt binh, đọc lời dụ về cương giới Nam Bắc và về những lần chống xâm lược đời trước, rồi nghiêm cấm ăn ở hai lòng.

Ở Tam Điệp, Sở và Lân xin chịu tội vì đã rút lui. Quang Trung không chém tướng. Ông cho rằng rút về chỗ hiểm, vừa giữ quân vừa làm địch chủ quan, là kế đúng, và đoán người bày kế là Ngô Thì Nhậm. Ông còn nói trước việc nước lớn thua một trận ắt muốn báo thù, nên sau này cần người khéo lời để dẹp binh đao, nuôi sức chừng mười năm.

Đêm 30 Tết quân lên đường, hẹn mùng 7 mở tiệc trong thành. Đêm mùng 3, Hà Hồi bị vây và xin hàng. Sáng mùng 5, đội khiêng ván bọc rơm ướt tiến vào Ngọc Hồi theo thế chữ nhất. Quân Thanh bắn và phun khói, gió đổi chiều, khói quay lại hại chính họ. Sầm Nghi Đống tự vẫn. Một cánh quân nghi binh phía đông làm đám chạy càng rối. Voi từ Đại Áng dồn quân Thanh xuống đầm. Giữa trưa, Quang Trung vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy qua cầu phao trên sông Nhị Hà. Lê Chiêu Thống cùng người thân cũng rời kinh thành.

Bố cục ba phần

  • Phần một, từ đầu đến lúc hạ lệnh xuất quân ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân: tin dữ, quyết định lên ngôi và thân chinh.
  • Phần hai, đến lúc vua tiến binh vào Thăng Long: hành quân, dụ quân ở Nghệ An, hội quân Tam Điệp, trận Hà Hồi và Ngọc Hồi.
  • Phần ba, phần còn lại: Tôn Sĩ Nghị và vua tôi Lê Chiêu Thống thất bại, bỏ thành mà chạy.

Em dựa vào mốc “xuất quân” và mốc “vào thành” để chia, đừng chia theo từng địa danh nhỏ. Hà Hồi và Ngọc Hồi cùng thuộc phần hành quân thần tốc.

Giá trị nội dung và nghệ thuật

Về nội dung, đoạn trích đứng về phía cuộc chiến giữ nước. Nguyễn Huệ hiện ra là người tổ chức chiến thắng, quân Thanh hiện ra kiêu rồi vỡ trận, Lê Chiêu Thống hiện ra là người đem quân ngoài vào đánh chính đất mình. Cách nhìn đó khớp với cách lịch sử Việt Nam ghi nhận chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đầu năm 1789.

Về nghệ thuật, sức mạnh nằm ở nhịp kể. Việc lớn được chọn, việc nhỏ bị lược. Nhân vật ít được tả dung mạo dài; tính cách lộ qua quyết định và câu nói. Cảnh trận thì ngược lại, có chi tiết rất cụ thể: ván rơm, gió đổi, voi, cầu phao. Sự xen kẽ ấy làm đoạn vừa nhanh vừa có hình.

Đối lập là thủ pháp dễ thấy nhất. Một bên là lệnh xuất phát đúng đêm giao thừa, một bên là tướng địch còn mải yến tiệc. Một bên tính sẵn cả việc hòa sau khi thắng, một bên đến lúc chạy còn chưa kịp mặc áo giáp. Em phân tích đối lập này thì không cần chép lại cả hồi.

Hình tượng vua Quang Trung

Điểm thứ nhất là sự quyết. Nghe Bắc Bình đã mất, ông định cầm quân đi ngay. Tướng sĩ xin hãy chính vị hiệu trước để yên người hai lòng. Ông nghe, nhưng việc lên ngôi, tế cáo và xuất quân vẫn gói trong một ngày 25 tháng Chạp. Quyết ở đây không phải nóng vội bỏ qua lời can; quyết là không để lễ nghĩa nuốt mất thời gian của cuộc chiến.

Điểm thứ hai là sự sáng khi đọc tình hình. Lời dụ ở Nghệ An tách rõ người phương Bắc với người nước Nam, nhắc các lần trước người phương Bắc sang cướp của, giết dân, và nhắc các bậc từng đánh đuổi họ. Mục đích của lời ấy là gom quân mới tuyển và quân cũ về một phía, đồng thời dọa kẻ trở mặt. Ông cũng thấy trước một số người còn hướng về nhà Lê có thể dao động khi Chiêu Thống về nước.

Điểm thứ ba là biết người. Ở Tam Điệp, binh pháp có câu “quân thua chém tướng”, nhưng ông không dùng câu ấy để giết Sở và Lân. Ông phân biệt tướng vũ dũng với người mưu, khen việc lui quân, và dành cho Ngô Thì Nhậm vai trò sau trận: nói cho dứt việc binh. Người đọc thấy một viên tổng chỉ huy, không phải một ông vua chỉ thưởng phạt theo giận dữ.

Điểm thứ tư là tài xếp quân. Hạn mùng 7 được nói trước như một lời hẹn có thể kiểm. Thực tế trưa mùng 5 đã vào thành, sớm hai ngày. Muốn vậy, toán do thám của địch phải bị bắt sạch để Hà Hồi không có tin, Hà Hồi phải hàng trong đêm để lấy lương và không kẹt lại sau lưng, rồi Ngọc Hồi mới bị đánh vào lúc trời vừa sáng. Nghi binh ở phía đông không phải cảnh trang trí; nó đổi đường tháo chạy của đối phương vào chỗ có voi.

Điểm thứ năm là hình ảnh giữa trận. Nhà vua không ngồi ở hậu quân trên danh nghĩa. Ông cưỡi voi đi đốc thúc. Chi tiết áo bào đỏ bị khói súng làm sạm là một câu tả ngắn, đủ để em nhớ người chỉ huy có mặt trong khói, không cần phóng đại thêm.

Quân Thanh và vua Lê Chiêu Thống

Tôn Sĩ Nghị được kể như một tướng ỷ thế nước lớn. Vào Thăng Long quá dễ nên ông cho là vô sự, lo yến tiệc hơn lo phòng thủ. Khi cánh quân Tây Sơn đánh tới, ông sợ, ngựa chưa kịp yên, người chưa kịp giáp, chạy trước qua cầu phao. Cầu sau đó đứt, quân lính giẫm nhau, nhiều người rơi xuống sông Nhị Hà. Ngòi bút không cần chê bằng tính từ; chuỗi hành động ấy đã là lời chê.

Quân trong đồn cũng được kể theo từng nấc sợ. Ở Hà Hồi, nghe tiếng quân vây và tiếng dạ ran, họ hàng. Ở Ngọc Hồi, họ chống không nổi rồi bỏ chạy, giày xéo lẫn nhau. Sầm Nghi Đống chọn cái chết tại chỗ. Đám chạy theo đường Vịnh Kiều lại gặp cánh voi. Bức tranh này có chủ đích: quân đông mà thiếu tin, thiếu tướng và thiếu thế trận thì vẫn vỡ.

Lê Chiêu Thống và những người đi theo bị đặt ở phía ngược lại lợi ích của dân đang bị quân ngoài chiếm đóng. Họ nhờ thanh thế quân Thanh, rồi khi thành mất thì cũng chạy, có chi tiết tranh cả thuyền của dân để qua sông. Đến lúc gặp Tôn Sĩ Nghị, hai bên nhìn nhau than thở. Đoạn trích dừng ở sự thất bại nhục nhã ấy. Em nhận xét số phận chính trị của họ, không biến đoạn này thành bài bêu riếu cá nhân.

Mốc ngày tháng và lỗi dễ gặp

Em nên thuộc năm mốc, vì đề đọc hiểu rất hay hỏi “sớm hơn lời hẹn bao lâu” hoặc “việc gì xảy ra trước việc gì”.

Trục thời gian từ 25 tháng Chạp lên ngôi đến trưa mùng 5 vào Thăng Long, có mốc Nghệ An, Tam Điệp và Hà Hồi
Hình 1. Năm mốc từ lễ lên ngôi đến lúc vào Thăng Long, sớm hai ngày so với hạn mùng 7.
  • 25 tháng Chạp năm Mậu Thân: lên ngôi, xuất quân từ Phú Xuân.
  • 29 tháng Chạp: tới Nghệ An, tuyển quân, dụ sĩ tốt.
  • Đêm 30 Tết: rời Tam Điệp, hẹn mùng 7 vào Thăng Long.
  • Đêm mùng 3: vây Hà Hồi, quân Thanh hàng.
  • Sáng đến trưa mùng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu: Ngọc Hồi thất thủ, quân vào Thăng Long.

Lỗi thứ nhất là gộp Hà Hồi với Ngọc Hồi thành một đồn. Hà Hồi hàng trong đêm mùng 3 nhờ uy hiếp và loa gọi. Ngọc Hồi là trận đánh thật, có súng, có khói, có ván, vào sáng mùng 5.

Lỗi thứ hai là nói quân vào Thăng Long đúng ngày đã hẹn. Lời hẹn là mùng 7. Việc vào thành là mùng 5. Hai ngày lệch ấy là chi tiết tác giả cố giữ, vì nó chứng minh lời hẹn không phải câu nói khoác.

Lỗi thứ ba là kể Nguyễn Huệ lên ngôi sau khi đã thắng. Trong đoạn trích, lễ lên ngôi ở núi Bân diễn ra trước khi ra Bắc, nhằm có danh nghĩa để hiệu triệu. Chiến thắng là hệ quả, không phải điều kiện của lễ ấy.

Lỗi thứ tư là chép dài nguyên văn hồi mười bốn vào bài kiểm tra. Đề thường hỏi một chi tiết hoặc một lời nói. Em trích một câu ngắn rồi giải thích việc câu ấy cho thấy tính cách nào. Phần đọc trên lớp dùng sách giáo khoa; phần viết của em là lời phân tích.

Câu hỏi thường gặp

Quang Trung đại phá quân Thanh thuộc tác phẩm nào?

Thuộc hồi thứ mười bốn của Hoàng Lê nhất thống chí, tiểu thuyết lịch sử chữ Hán của Ngô gia văn phái.

Nhà vua vào Thăng Long ngày nào?

Trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu, năm 1789. Lời hẹn với tướng sĩ là mùng 7, nên thực tế sớm hai ngày.

Bố cục đoạn trích chia mấy phần?

Ba phần: quyết định lên ngôi và xuất quân; hành quân cùng các trận Hà Hồi, Ngọc Hồi; sự thua chạy của Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống.

Vì sao Quang Trung không trị tội Ngô Văn Sở?

Lui về Tam Điệp là để giữ quân, dựa vào chỗ hiểm và làm địch chủ quan. Ông coi đó là kế đúng, không phải tội bỏ thành.

Người kể chuyện ở ngôi nào?

Ngôi thứ ba. Người kể biết việc cả phe Tây Sơn lẫn phe quân Thanh và vua Lê.