Trả lời nhanh
Câu trắc nghiệm “Các nhà văn hóa Phục hưng tiêu biểu là” chọn Ra-bơ-le, Đê-các-tơ, Lê-ô-na đơ Vanh-xi và Sếch-xpia. Không chọn các nhà khoa học Hi Lạp như Ta-lét, Pi-ta-go, cũng không chọn văn hào thế kỉ XIX như Huy-gô. Bài vận dụng Lịch sử và Địa lí 7 Kết nối tri thức, trang 22, lại yêu cầu em tự giới thiệu một công trình, một tác phẩm hoặc một nhà văn hóa. Bài mẫu dưới đây chọn Lê-ô-na đơ Vanh-xi và bức La Giô-công-đơ. Sách lớp 7 còn nhắc Mi-ken-lăng, Ra-pha-en; các tên ấy bổ sung cho danh sách trắc nghiệm, không bác bỏ danh sách ấy.
Các nhà văn hóa Phục hưng tiêu biểu là ai?
Phong trào văn hóa Phục hưng bắt đầu ở I-ta-li-a vào khoảng thế kỉ XIV–XVI, rồi lan sang Tây Âu. Tên gọi “phục hưng” chỉ việc người đương thời muốn làm sống lại tinh thần văn hóa Hi Lạp và Rô-ma cổ đại, đồng thời đề cao con người, lý trí và quan sát thực tế, khác với cách nhìn coi đời sống trần thế chỉ là chốn tạm.
Câu chọn đáp án quen thuộc có bốn phương án. Đáp án đúng là nhóm: Ra-bơ-le, Đê-các-tơ, Lê-ô-na đơ Vanh-xi, Sếch-xpia.
- Ra-bơ-le (Pháp, khoảng 1483–1553) viết bộ truyện Ga-găng-chuya và Păng-ta-gruy-en, dùng tiếng cười để châm biếm thói học vẹt và sự giả dối.
- Đê-các-tơ (Pháp, 1596–1650) là nhà triết học và toán học, đề cao lý trí. Sách giáo khoa cũ xếp ông vào danh sách Phục hưng của câu trắc nghiệm này. Sử học cũng đặt ông ở đầu thời cận đại, sau đỉnh cao hội họa I-ta-li-a. Khi làm trắc nghiệm theo đề, em vẫn chọn tên ông trong nhóm bốn người. Khi viết bài tự luận, em nên nói rõ ông thuộc lớp nhà tư tưởng cuối thời kì ấy.
- Lê-ô-na đơ Vanh-xi (I-ta-li-a, 1452–1519) vừa vẽ, vừa nghiên cứu cơ thể, máy móc, công trình.
- Sếch-xpia (Anh, 1564–1616) soạn kịch về con người có tính cách riêng, không phải nhân vật chỉ để minh họa một bài học đạo đức.
Các phương án nhiễu thường là danh sách cổ đại (Hô-me, Ta-lét, Pi-ta-go, Ơ-cơ-lít) hoặc danh sách thế kỉ XIX (Ba-dắc, Huy-gô). Cổ đại là nguồn Phục hưng học lại, không phải người của phong trào. Thế kỉ XIX là văn học lãng mạn và hiện thực về sau.

Ở bài 3 sách Lịch sử và Địa lí 7, bức tranh danh sách rộng hơn: hội họa có Lê-ô-na và Ra-pha-en, điêu khắc và trần nhà nguyện Xít-xtin gắn với Mi-ken-lăng, văn học có Sếch-xpia và Xéc-van-tét với Đôn Ki-hô-tê. Nếu đề hỏi “tiêu biểu là” theo đúng bốn tên của câu trắc nghiệm cũ, em chọn nhóm Ra-bơ-le, Đê-các-tơ, Lê-ô-na, Sếch-xpia. Nếu đề hỏi “kể thêm”, em nêu Mi-ken-lăng (1475–1564) và Ra-pha-en (1483–1520). Hai cách không mâu thuẫn; chúng lấy từ hai thế hệ sách.
Bài vận dụng trang 22 cần những ý nào?
Đề không bắt cả lớp viết một người. Em sưu tầm từ sách và báo rồi giới thiệu theo cách của mình một trong ba thứ: một công trình, một tác phẩm, hoặc một nhà văn hóa. Bài đạt khi có đủ các ý sau, viết thành đoạn chứ không gạch đầu dòng suốt bài.
- Đó là ai hoặc là tác phẩm gì, của nước nào, khoảng thời gian nào.
- Tác giả làm được những việc gì, hoặc tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh nào.
- Một nét đặc sắc em thực sự hiểu, không chép một danh sách tính từ khen.
- Giá trị lúc ấy và điều người xem ngày nay vẫn nhận ra.
- Một câu vì sao em ấn tượng. Câu này phải riêng của em, không thay bằng “vô cùng xuất sắc”.
Độ dài vừa sức lớp 7 là khoảng mười đến mười lăm câu. Dưới đây là một bài đủ ý về Lê-ô-na và La Giô-công-đơ, rồi một bài ngắn hơn về tượng Đa-vít để em thấy có thể đổi đề tài.
Bài giới thiệu: Lê-ô-na đơ Vanh-xi và La Giô-công-đơ
Em ấn tượng nhà văn hóa Lê-ô-na đơ Vanh-xi, người I-ta-li-a, sinh năm 1452 ở thị trấn Vanh-xi, mất năm 1519 tại Am-boa-xơ trên đất Pháp. Ông sống đúng lúc các thành phố I-ta-li-a giàu có nhờ buôn bán, các gia đình quý tộc đặt tranh và muốn con người trong tranh giống người thật, không còn là hình thánh mỏng dẹt như nhiều tranh nhà thờ thời trung đại.
Lê-ô-na không chỉ là họa sĩ. Ông mổ xẻ để hiểu cơ bắp, vẽ phác máy bay, cầu, vũ khí và sơ đồ cơ thể. Với ông, vẽ đẹp là kết quả của quan sát. Điều ấy đúng tinh thần Phục hưng: tin rằng con người biết nhìn, biết đo thì hiểu được thế giới.
Tác phẩm em chọn là chân dung La Giô-công-đơ, còn gọi là Mô-na Li-da. Ông vẽ bằng sơn dầu trên bảng gỗ dương, khoảng những năm 1503–1506, và còn sửa nhiều năm sau. Bức tranh nhỏ, cỡ hơn nửa mét bề cao. Ngày nay tranh ở bảo tàng Lúp-vơ, Pa-ri.
Nét em nhớ không phải câu “nụ cười bí ẩn” được nhắc đi nhắc lại. Em chú ý cách ông chuyển màu. Viền má, khóe mắt và khóe miệng không có một nét mực cắt đứt. Màu tối nhạt dần vào màu sáng, nên miệng như sắp cười mà không cười hẳn. Cách vẽ ấy được gọi là sfu-ma-tô, nghĩa là làm mờ như khói. Phía sau người phụ nữ không phải nền vàng phẳng. Có đường, có sông, có núi mờ. Người và cảnh cùng một lớp không khí. Hồi trung đại, nhân vật thường bị dán lên nền. Ở đây nhân vật ngồi trong thế giới.
Thêm một chi tiết kỹ thuật: thân người hơi xoay, mặt nhìn ra phía người xem. Tư thế ba phần tư ấy khiến chân dung có chiều sâu, khác kiểu ngồi nghiêm nhìn thẳng của nhiều tranh cũ. Lê-ô-na đã nghiên cứu giải phẫu nên cổ, vai và bàn tay đặt đúng khớp, không cứng.
Hồi ấy, bức tranh chứng minh một họa sĩ có thể vừa là người nghiên cứu. Ngày nay khách vẫn xếp hàng vì nụ cười không khóa được vào một cảm xúc. Với em, điều đáng giữ khi học bài Phục hưng là: con người trở thành trung tâm của tác phẩm, và tác phẩm được làm bằng quan sát chứ không chỉ bằng khuôn mẫu.
Ông còn bức Bữa ăn tối cuối cùng, vẽ khoảng 1495–1498 trên tường phòng ăn của tu viện Xan-ta Ma-ri-a đen-le Gra-txi-e ở Mi-lan. Bức ấy kể khoảnh khắc một người trong bàn sẽ phản bội. Mỗi môn đồ một cử chỉ. Lê-ô-na thử chất màu trên tường khô nên tranh hỏng dần. Em không kể hết mọi tác phẩm. Một bức hiểu rõ còn hơn một danh sách không nhớ nổi năm.
Bài ngắn nếu em chọn tượng Đa-vít
Nếu em không muốn viết hội họa, tượng Đa-vít của Mi-ken-lăng là một công trình điêu khắc rõ ràng. Ông người I-ta-li-a, tạc tượng bằng đá cẩm thạch những năm 1501–1504. Tượng cao hơn năm mét, nay đặt ở phòng trưng bày A-ca-đê-mi-a, thành phố Phlo-ren-xơ.
Đa-vít là nhân vật trong chuyện cổ, chàng thanh niên sắp đối đầu người khổng lồ. Mi-ken-lăng không tạc cảnh đã thắng. Ông tạc lúc chưa ném đá: người đứng, vai xoay, mắt nhìn sang bên, cơ bắp căng vì chờ. Người Phlo-ren-xơ thời ấy thấy ở pho tượng hình ảnh một thành phố nhỏ dám tự vệ. Ngày nay em vẫn thấy ý Phục hưng rất rõ: cơ thể người được nghiên cứu từng khối, và con người trần thế đủ tư cách đứng giữa quảng trường, không cần núp sau cánh thiên thần.
Bài này ngắn hơn bài La Giô-công-đơ nhưng vẫn đủ bốn ý: tác phẩm và nước, tác giả, nét đặc sắc, giá trị xưa và nay. Em có thể thêm một câu em đã xem ảnh tượng ở sách nào, năm nào, để phần “sưu tầm” của đề không bị bỏ trống.
Cách tránh bài giới thiệu chung chung
Đừng mở bằng “Phục hưng là phong trào vĩ đại” rồi kể mười cái tên. Đề xin một đối tượng. Hãy chọn một và ở lại với nó. Năm sinh, năm mất, nơi giữ tác phẩm phải đúng; không bịa số đo. Nếu chưa chắc chiều cao hay năm vẽ, em viết “khoảng” hoặc bỏ con số, không đoán cho đủ câu.
Nét đặc sắc phải là một việc nhìn thấy được: màu chuyển mờ, tay đặt đúng khớp, người trong tượng đang chờ chứ chưa đánh. “Rất đẹp, rất tài” không phải nét đặc sắc. Câu cuối nói điều em học được cho bài lịch sử: con người được đề cao, khoa học đi cùng nghệ thuật, quê hương phong trào là I-ta-li-a rồi mới tới Pháp, Anh.
Khi đối chiếu với câu trắc nghiệm, em nhớ hai tầng tên. Tầng làm đề chọn ô: Ra-bơ-le, Đê-các-tơ, Lê-ô-na đơ Vanh-xi, Sếch-xpia. Tầng làm bài văn lớp 7: có thể là chính Lê-ô-na, hoặc Mi-ken-lăng, hoặc một tác phẩm cụ thể. Viết xong, đọc lại xem có câu nào chỉ khen mà không có sự kiện. Câu ấy nên thay bằng năm, nơi chốn hoặc một chi tiết của tác phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Các nhà văn hóa Phục hưng tiêu biểu là những ai?
Theo câu trắc nghiệm thường gặp: Ra-bơ-le, Đê-các-tơ, Lê-ô-na đơ Vanh-xi và Sếch-xpia. Sách lớp 7 còn kể Mi-ken-lăng và Ra-pha-en.
Quê hương phong trào văn hóa Phục hưng là nước nào?
I-ta-li-a, rồi phong trào lan sang các nước Tây Âu như Pháp và Anh.
La Giô-công-đơ là tác phẩm của ai, vẽ khoảng năm nào?
Của Lê-ô-na đơ Vanh-xi, sơn dầu trên gỗ dương, khởi vẽ khoảng 1503–1506. Nay tranh ở bảo tàng Lúp-vơ, Pa-ri.
Bài vận dụng trang 22 Lịch sử 7 cần viết gì?
Giới thiệu một công trình, một tác phẩm hoặc một nhà văn hóa thời Phục hưng: là ai, của nước nào, nét đặc sắc và vì sao em ấn tượng.
Vì sao Đê-các-tơ vẫn có trong đáp án trắc nghiệm?
Sách giáo khoa cũ đưa ông vào nhóm bốn tên của câu hỏi này. Ông sống 1596–1650, cuối thời kì, nên bài tự luận nên nói rõ ông là nhà lý trí đầu cận đại.