Trả lời nhanh
Tú Uyên gặp Giáng Kiều là đoạn trích truyện thơ Nôm Bích Câu kì ngộ (tương truyền của Vũ Quốc Trân, thế kỉ XIX), viết bằng thể lục bát. Chàng thư sinh nghèo Tú Uyên tương tư người đẹp, ngày đêm ngắm bức tranh tố nữ, rồi phát hiện tiên nữ Giáng Kiều bước ra từ tranh và hai người kết duyên. Văn bản thể hiện khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi qua yếu tố kì ảo.
1. Tác giả Vũ Quốc Trân
- Vũ Quốc Trân là nhà nho sống vào khoảng thế kỉ XIX. Theo một số tài liệu, ông quê ở Hải Dương và từng sinh sống ở kinh thành Thăng Long – Hà Nội.
- Tiểu sử của ông còn rất ít tư liệu; năm sinh, năm mất chưa rõ.
- Việc ghi tên Vũ Quốc Trân là tác giả Bích Câu kì ngộ chủ yếu dựa vào truyền bản và các công trình sưu tầm, nên khi làm bài, các em có thể viết “tương truyền là của Vũ Quốc Trân” để chặt chẽ.
2. Tác phẩm Bích Câu kì ngộ
Nguồn gốc cốt truyện
Câu chuyện Tú Uyên – Giáng Kiều vốn đã có trong văn xuôi chữ Hán: truyện Bích Câu kì ngộ nằm trong tập Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm (thế kỉ XVIII). Đến thế kỉ XIX, câu chuyện được chuyển thể thành truyện thơ Nôm lục bát, giúp tác phẩm gần gũi hơn với người đọc bình dân và được lưu truyền rộng rãi.
Tên tác phẩm có nghĩa là “cuộc gặp gỡ kì lạ ở Bích Câu”. Bích Câu là tên một phường thuộc kinh thành Thăng Long xưa, nơi chàng Tú Uyên sống và học tập. Ngày nay ở Hà Nội vẫn còn đạo quán Bích Câu gắn với truyền thuyết này.
Tóm tắt toàn truyện
- Tú Uyên là học trò mồ côi, nghèo, chăm học, sống ở phường Bích Câu.
- Trong một lần đi xem hội xuân, chàng gặp một người con gái xinh đẹp, đi theo nàng thì nàng biến mất. Từ đó chàng ốm tương tư.
- Chàng mua được một bức tranh tố nữ có dung nhan giống hệt người trong mộng, đem về treo, ngày đêm trò chuyện, ăn cơm cũng bày thêm bát đũa cho người trong tranh.
- Một hôm đi học về, chàng thấy cơm canh đã dọn sẵn. Rình xem, chàng thấy người con gái từ trong tranh bước ra. Nàng xưng là tiên nữ Giáng Kiều, vì có duyên tiền định nên xuống trần. Hai người nên vợ nên chồng.
- Về sau Tú Uyên sa vào rượu chè, Giáng Kiều bỏ đi; chàng hối hận, nàng trở về. Cuối cùng hai người cùng thoát tục, trở về cõi tiên.
3. Đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: truyện thơ Nôm, viết bằng thể lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự, kết hợp biểu cảm và miêu tả.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba, người kể giấu mình nhưng thường xuyên hoà vào cảm xúc của nhân vật.
Bố cục 2 phần
| Phần | Nội dung chính |
|---|---|
| Phần 1 | Nỗi tương tư của Tú Uyên bên bức tranh; sự việc lạ: cơm canh dọn sẵn; chàng rình và gặp người con gái bước ra từ tranh. |
| Phần 2 | Giáng Kiều tự giới thiệu là tiên nữ, nói về duyên tiền định; hai người kết duyên vợ chồng. |
Nhân vật
| Nhân vật | Đặc điểm | Chi tiết tiêu biểu |
|---|---|---|
| Tú Uyên | Thư sinh nghèo, đa tình, chân thành, si mê đến mức ốm tương tư | Ngày đêm ngắm tranh, coi người trong tranh như người thật |
| Giáng Kiều | Tiên nữ xinh đẹp, đảm đang, nết na, tin vào duyên phận | Lặng lẽ dọn cơm, tự giới thiệu: “Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên” |
4. Giá trị nội dung
- Ca ngợi tình yêu chân thành, say đắm: nỗi nhớ của Tú Uyên mãnh liệt đến mức người trong tranh như sống dậy. Tình yêu ấy được đền đáp bằng cuộc gặp gỡ kì diệu.
- Khát vọng hạnh phúc lứa đôi: người học trò nghèo, mồ côi, cô đơn mơ về một mái ấm có người vợ hiền đảm đang. Hình ảnh cơm canh “bát trân” dọn sẵn là biểu tượng của hạnh phúc gia đình bình dị.
- Quan niệm về duyên phận: lời Giáng Kiều “Ba sinh đã nặng vì duyên” cho thấy niềm tin rằng tình yêu chân chính là duyên trời định, mang màu sắc tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo.
- Vẻ đẹp đất Thăng Long: câu chuyện gắn với phường Bích Câu, với lễ hội và nếp sống kinh thành, tạo nên chất “địa phương” riêng cho truyện thơ.
5. Giá trị nghệ thuật
- Yếu tố kì ảo: người trong tranh bước ra đời thực, tiên nữ hạ phàm. Yếu tố kì ảo không làm câu chuyện xa lạ mà trở thành cách hiện thực hoá ước mơ của con người.
- Tình huống truyện hấp dẫn: từ một chi tiết lạ (cơm canh dọn sẵn) đến hành động rình xem và khoảnh khắc phát hiện, mạch truyện có cao trào như truyện ngắn.
- Thể lục bát uyển chuyển: lời thơ nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu, phù hợp để kể chuyện tình.
- Kết hợp tả cảnh, tả tình: những câu tả mùi vị món ăn “mùi hoa sực nức” vừa gợi sự kì lạ, vừa gợi cảm giác ngọt ngào của hạnh phúc sắp đến.
- Ngôn ngữ bác học hoà với bình dân: có điển cố (Hằng Nga, ba sinh, tơ hồng) nhưng vẫn gần với lời ăn tiếng nói của người Việt.
6. Ba chi tiết đáng chú ý khi phân tích
Bức tranh tố nữ. Đây là “cây cầu” nối cõi thực với cõi tiên. Tranh vốn là vật vô tri, nhưng qua tình yêu của Tú Uyên, nó trở thành nơi lưu giữ hình bóng người thương. Chi tiết này cho thấy niềm tin dân gian rằng tình cảm chân thành có thể làm điều không thể trở thành có thể.
Mâm cơm dọn sẵn. Câu thơ “Trở về đã thấy bát trân sẵn sàng” mở ra bí ẩn. Điều đáng nói là phép màu không hiện ra bằng vàng bạc, cung điện mà bằng một bữa cơm gia đình. Hạnh phúc mà người học trò nghèo mong mỏi thật giản dị, rất Việt Nam.
Lời tự giới thiệu của Giáng Kiều. Nàng nói rõ thân phận tiên nữ và mối duyên tiền định. Lời lẽ khiêm nhường, e ấp mà rõ ràng, cho thấy nàng chủ động đến với tình yêu, một nét khá mới mẻ so với hình ảnh người phụ nữ thụ động trong nhiều tác phẩm cùng thời.
7. Dàn ý phân tích đoạn trích
- Mở bài: Giới thiệu truyện thơ Bích Câu kì ngộ, tác giả tương truyền Vũ Quốc Trân, đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều và vấn đề: khát vọng tình yêu qua yếu tố kì ảo.
- Thân bài:
- Hoàn cảnh và nỗi tương tư của Tú Uyên: nghèo, cô đơn, si tình bên bức tranh.
- Sự việc lạ và khoảnh khắc gặp gỡ: mâm cơm dọn sẵn, hành động rình xem, người đẹp bước ra từ tranh.
- Giáng Kiều và mối duyên tiền định: lời tự giới thiệu, niềm tin “ba sinh”.
- Nghệ thuật: yếu tố kì ảo, tình huống, thể lục bát, kết hợp tả cảnh – tả tình.
- Kết bài: Khẳng định giá trị nhân văn: trân trọng tình yêu chân thành và ước mơ hạnh phúc bình dị; vị trí của tác phẩm trong dòng truyện thơ Nôm.
8. Câu hỏi ôn tập
Câu 1. Yếu tố kì ảo trong đoạn trích có tác dụng gì? Gợi ý: tạo sức hấp dẫn, hiện thực hoá ước mơ hạnh phúc, thể hiện niềm tin vào sức mạnh của tình yêu chân thành.
Câu 2. Vì sao nói Bích Câu kì ngộ mang đậm dấu ấn Thăng Long? Gợi ý: địa danh phường Bích Câu, không khí lễ hội, nếp sống của người học trò kinh kì.
Câu 3. So sánh chi tiết người đẹp bước ra từ vật (bức tranh) với chi tiết cô Tấm bước ra từ quả thị. Gợi ý: cùng mô típ người đẹp ẩn trong đồ vật, cùng gắn với mâm cơm, việc nhà; khác ở chỗ Giáng Kiều là tiên nữ đến vì duyên, cô Tấm là người hiền hoá thân trở về.
Câu hỏi thường gặp
Tú Uyên gặp Giáng Kiều trích từ tác phẩm nào?
Đoạn trích thuộc truyện thơ Nôm Bích Câu kì ngộ, tương truyền của Vũ Quốc Trân (thế kỉ XIX), được chuyển thể từ truyện chữ Hán cùng tên trong Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm.
Đoạn trích Tú Uyên gặp Giáng Kiều viết theo thể thơ gì?
Đoạn trích viết theo thể lục bát, thể thơ quen thuộc của truyện thơ Nôm Việt Nam.
Yếu tố kì ảo nổi bật trong đoạn trích là gì?
Người con gái trong bức tranh tố nữ bước ra đời thực, lặng lẽ dọn cơm cho Tú Uyên và tự nhận là tiên nữ Giáng Kiều có duyên tiền định với chàng.
Chủ đề của Tú Uyên gặp Giáng Kiều là gì?
Ca ngợi tình yêu chân thành, say đắm và thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi giản dị của con người, đặc biệt là người học trò nghèo.