Trả lời nhanh
Sắc thái Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện ở ba lớp. Thứ nhất là từ ngữ địa phương như tầm vông, dao phay, rơm con cúi, trối kệ, khẳm, vô, ưng. Thứ hai là giọng điệu mộc mạc, bộc trực, thương ghét rõ ràng. Thứ ba là hình ảnh đời sống ruộng vườn, sông nước miền Nam. Dẫn chứng rõ nhất nằm trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Truyện Lục Vân Tiên và bài thơ Chạy giặc.
1. Hiểu đúng yêu cầu của đề
Đề thường gặp có dạng: “Có ý kiến cho rằng thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ nét sắc thái của ngôn ngữ Nam Bộ. Hãy làm sáng tỏ.” Đây là kiểu bài nghị luận văn học chứng minh một nhận định về phong cách tác giả, nên em không được kể lại nội dung tác phẩm. Bài viết phải xoay quanh hai câu hỏi: ngôn ngữ ấy “Nam Bộ” ở chỗ nào, và nhờ nó mà tác phẩm hay hơn ra sao.
- Phạm vi dẫn chứng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (dẫn chứng chính), Truyện Lục Vân Tiên (đoạn Vân Tiên đánh cướp, lời ông Quán) và Chạy giặc.
- Thao tác chính: chứng minh, có kết hợp phân tích và bình luận.
- Điều cần tránh: chỉ liệt kê từ địa phương mà không giải thích tác dụng của chúng.
2. Kiến thức nền cần nắm
Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888) sinh ở Gia Định, mất ở Ba Tri (Bến Tre). Gần như cả đời ông gắn với đất Nam Kì lục tỉnh. Bị mù khi còn trẻ, ông vẫn dạy học, bốc thuốc và sáng tác. Ông sáng tác nhiều bằng chữ Nôm, viết cho người bình dân nghe và nhớ, nhiều tác phẩm được truyền miệng qua lối “nói thơ”, “kể thơ”. Vì vậy ngôn ngữ của ông gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân Nam Bộ.
Bảng từ ngữ Nam Bộ tiêu biểu
| Từ ngữ | Tác phẩm | Nghĩa / sắc thái |
|---|---|---|
| tầm vông | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Loại tre đặc ruột phổ biến ở Nam Bộ, được vót nhọn làm vũ khí |
| rơm con cúi, dao phay | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Cúi rơm dùng để giữ lửa, dao thái bếp: những vật dụng nhà nông |
| hè, ó | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Hò hét, hô hoán nhau xông lên |
| trối kệ | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Mặc kệ, bất chấp |
| bòng bong, trắng lốp, đen sì | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Lều vải của giặc; các từ chỉ màu sắc có sắc thái chê ghét |
| vùa hương, bàn độc | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Lư hương, bàn thờ |
| ưng, thác | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc | Muốn, chịu; chết |
| vô, bớ, phừng phừng | Truyện Lục Vân Tiên | Vào; tiếng gọi lớn; đỏ bừng (giận dữ) |
| rày, lơ xơ, dáo dác | Chạy giặc | Nay; dáng vẻ thất thần, hoảng loạn |
Mẹo nhớ “3 lớp”: Từ – Giọng – Cảnh. Từ là từ ngữ địa phương. Giọng là giọng bộc trực, ghét ra ghét, thương ra thương. Cảnh là hình ảnh ruộng đồng, sông nước, đời sống nông dân. Mỗi lớp nên làm thành một luận điểm trong thân bài.
3. Dàn ý chi tiết
Mở bài
- Giới thiệu Nguyễn Đình Chiểu: nhà thơ của nhân dân Nam Bộ, “ngôi sao sáng” của văn nghệ yêu nước nửa sau thế kỉ XIX.
- Nêu nhận định: thơ văn ông thể hiện rõ nét sắc thái ngôn ngữ Nam Bộ.
Thân bài
- Giải thích: “sắc thái ngôn ngữ Nam Bộ” là cách dùng từ, cách nói, giọng điệu và hình ảnh đặc trưng của người miền Nam: mộc mạc, chân chất, thẳng thắn, giàu tình nghĩa.
- Cơ sở: quê hương và cuộc đời gắn bó với Nam Bộ; đối tượng tiếp nhận là người bình dân; sáng tác bằng chữ Nôm, theo lối truyền miệng.
- Luận điểm 1 – Từ ngữ địa phương: tầm vông, dao phay, rơm con cúi, hè, ó, trối kệ, vô, bớ… Tác dụng là khắc hoạ chân thực người nông dân nghĩa sĩ và không khí trận đánh.
- Luận điểm 2 – Giọng điệu bộc trực: căm ghét giặc “như nhà nông ghét cỏ”; lời Vân Tiên “Bớ đảng hung đồ”; lời ông Quán “hay ghét cũng là hay thương”.
- Luận điểm 3 – Hình ảnh so sánh lấy từ đời sống nông thôn Nam Bộ: “trông tin quan như trời hạn trông mưa”, “danh nổi như phao”, “tiếng vang như mõ”; cảnh Bến Nghé, Đồng Nai trong Chạy giặc.
- Đánh giá: ngôn ngữ bình dân được nâng thành ngôn ngữ nghệ thuật, đưa người nông dân vào văn chương với tư cách nhân vật trung tâm. Đó là đóng góp lớn của ông cho văn học dân tộc.
Kết bài
- Khẳng định lại nhận định.
- Liên hệ: sắc thái ấy làm nên sức sống bền lâu của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong lòng người dân Nam Bộ.
4. Bài văn mẫu số 1 – Bài hoàn chỉnh (tập trung Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Văn học trung đại Việt Nam vốn quen với lời lẽ trang trọng, điển tích dày đặc. Đến Nguyễn Đình Chiểu, văn chương bỗng mang giọng nói của người nông dân miền Nam: mộc mạc, chân chất mà vẫn rất sâu nặng. Có thể nói thơ văn ông thể hiện rõ nét sắc thái của ngôn ngữ Nam Bộ, và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là minh chứng đẹp nhất.
Sắc thái ấy có nguồn gốc từ chính cuộc đời tác giả. Ông sinh ra ở Gia Định, sống và mất trên đất Nam Kì. Ông viết bằng chữ Nôm cho những người dân “cui cút làm ăn” nghe và thuộc. Viết cho ai thì phải nói bằng tiếng của người ấy, nên tiếng Nam Bộ đi vào trang văn của ông một cách tự nhiên.
Trước hết, sắc thái Nam Bộ nằm ngay trong vốn từ. Khi tả trang bị của nghĩa sĩ, tác giả viết: “Ngoài cật có một manh áo vải… trong tay cầm một ngọn tầm vông”. Tầm vông là loại tre đặc ruột mọc khắp vườn nhà Nam Bộ. Hoả mai thì “đánh bằng rơm con cúi”, gươm thì “dùng bằng lưỡi dao phay”. Những vật dụng quen thuộc của nhà nông bước thẳng vào chiến trận. Người đọc vì thế vừa thấy rõ sự thô sơ, vừa thấm thía lòng dũng cảm phi thường của những người “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”.
Ngôn ngữ địa phương còn tạo nên nhịp trận đánh sôi động: “Kẻ đâm ngang, người chém ngược… bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”. “Hè”, “ó” là tiếng hò hét gọi nhau xông lên; “trối kệ” là mặc kệ, bất chấp. Không có từ ngữ bác học nào diễn tả được khí thế hồn nhiên, liều mình ấy đúng như cách nói của chính người nông dân.
Sắc thái Nam Bộ còn thể hiện ở giọng điệu thương ghét rạch ròi. Lòng căm thù giặc được ví “như nhà nông ghét cỏ”. Cái nhìn với kẻ thù là “bòng bong che trắng lốp”, “ống khói chạy đen sì”, để rồi “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”. Lời lẽ thẳng thừng, không vòng vo, đúng tính cách người miền Nam: đã ghét thì nói rõ là ghét.
Các hình ảnh so sánh cũng lấy từ đời sống ruộng đồng: mong tin quan quân “như trời hạn trông mưa”, “danh nổi như phao”, “tiếng vang như mõ”. Phao, mõ, mưa, cỏ đều là những thứ người nông dân nhìn thấy hằng ngày. Nhờ đó, nỗi niềm của họ được nói bằng chính trải nghiệm của họ.
Điều đáng quý là Nguyễn Đình Chiểu không dùng tiếng địa phương để làm “lạ” trang văn. Ông nâng nó lên thành ngôn ngữ nghệ thuật, đặt vào thể văn tế vốn trang nghiêm, có đối, có vần. Lần đầu tiên người nông dân trở thành nhân vật trung tâm của một áng văn bi tráng, và họ được khóc thương bằng chính tiếng nói của mình.
Tóm lại, ngôn ngữ Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện ở từ ngữ, giọng điệu và hình ảnh. Đây là một trong những lí do khiến tác phẩm của ông sống mãi trong lòng người dân lục tỉnh qua hơn một thế kỉ.
5. Bài văn mẫu số 2 – Góc nhìn từ Truyện Lục Vân Tiên
Nếu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng, thì Truyện Lục Vân Tiên là lời kể chuyện mộc mạc của người miền Nam bên đèn dầu. Chính chất mộc mạc đó giúp tác phẩm được “nói thơ” khắp các xóm làng Nam Bộ.
Đoạn Vân Tiên đánh cướp cứu Nguyệt Nga cho thấy rõ điều này. Thấy dân bị hại, chàng không nói lời văn hoa mà hành động ngay: “Vân Tiên ghé lại bên đàng / Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”. Chữ “vô” là cách nói quen của người Nam, và động tác “bẻ cây làm gậy” thì giản dị như một người dân quê gặp chuyện bất bình. Tiếng quát “Bớ đảng hung đồ / Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân” vang lên dứt khoát. “Bớ” là tiếng gọi lớn quen thuộc ở miền Nam. Phía tên cướp, Phong Lai “mặt đỏ phừng phừng”, buông lời “thằng nào”, “mày” thô lỗ. Ngôn ngữ nhân vật được cá tính hoá rõ: anh hùng thì thẳng thắn, kẻ ác thì hung hăng.
Lời ông Quán lại cho thấy một nét khác của tâm hồn Nam Bộ: tình cảm rạch ròi. Câu “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương” là một triết lí sống bình dân. Ông ghét kẻ “để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang”, thương người hết lòng vì dân. Thương ghét không nửa vời, đó chính là tính cách người miền Nam được nói thành thơ.
Tuy dùng nhiều điển tích Nho học, Lục Vân Tiên vẫn gần gũi vì câu thơ lục bát trơn tru, dễ thuộc và đậm khẩu ngữ. Người nghe không cần biết chữ vẫn hiểu, vẫn nhớ, vẫn truyền cho nhau. Đó là minh chứng thuyết phục cho sắc thái Nam Bộ đậm nét trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
6. Đoạn văn mẫu số 3 – Khoảng 200 chữ (bài Chạy giặc)
Bài thơ Chạy giặc viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, vốn là thể thơ trang trọng, nhưng vẫn phảng phất hồn Nam Bộ. Mở đầu là cảnh “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây”. Phiên chợ quê vừa tan thì tai hoạ ập xuống, một chi tiết rất đời thường mà dội vào lòng người đọc. Hai câu thực “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy / Mất ổ bầy chim dáo dác bay” dùng các từ láy “lơ xơ”, “dáo dác” quen thuộc trong lời ăn tiếng nói của người dân để tả sự hoảng loạn, ngơ ngác. Địa danh Bến Nghé, Đồng Nai đặt vào thơ khiến nỗi đau mất nước gắn với từng con sông, mái nhà cụ thể của đất Gia Định. Câu kết “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng” có chữ “rày” (nay) đậm chất miền Nam. Câu hỏi nghe như lời trách thẳng của người dân với triều đình. Như vậy, ngay cả trong khuôn khổ thơ Đường luật, Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ được giọng nói Nam Bộ chân chất mà xót xa.
7. Lỗi sai thường gặp khi làm bài
- Chỉ liệt kê từ: Kể ra mười từ địa phương mà không giải thích chúng góp phần khắc hoạ nhân vật, cảm xúc như thế nào thì bài sẽ bị điểm thấp.
- Nhầm sắc thái Nam Bộ với “thiếu trau chuốt”: Cần nhấn mạnh rằng đây là lựa chọn nghệ thuật, bình dân mà vẫn có đối, có vần, có sức bi tráng.
- Trích sai câu chữ: Văn tế dài, rất dễ chép nhầm. Chỉ nên trích những vế em nhớ chắc chắn.
- Bỏ qua phần đánh giá: Cần nêu được đóng góp: đưa người nông dân và tiếng nói của họ vào văn chương bác học.
8. Luyện tập (có gợi ý đáp án)
- Giải thích nghĩa và tác dụng của “trối kệ” trong câu “trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”.
Gợi ý: “Trối kệ” nghĩa là mặc kệ, bất chấp. Từ này cho thấy tinh thần liều mình, coi thường vũ khí tối tân của giặc, đồng thời giữ nguyên cách nói của người nông dân Nam Bộ. - Vì sao hình ảnh “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” lại đắt giá?
Gợi ý: Cỏ dại là kẻ thù của ruộng lúa, phải nhổ tận gốc. Lấy kinh nghiệm nhà nông để nói lòng căm thù giặc khiến tình cảm ấy vừa cụ thể vừa quyết liệt, đúng với tâm lí người nông dân. - Viết câu chủ đề cho đoạn văn bàn về giọng điệu Nam Bộ trong lời ông Quán.
Gợi ý: “Lời ông Quán trong Lục Vân Tiên mang giọng điệu thương ghét rạch ròi, bộc trực của người Nam Bộ, kết tinh trong câu thơ ‘Vì chưng hay ghét cũng là hay thương’.”
Câu hỏi thường gặp
Tác phẩm nào thể hiện rõ nhất ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Đình Chiểu?
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là dẫn chứng tiêu biểu nhất, với các từ như tầm vông, rơm con cúi, dao phay, hè, ó, trối kệ. Bên cạnh đó, Truyện Lục Vân Tiên và bài thơ Chạy giặc cũng là những dẫn chứng tốt.
Sắc thái ngôn ngữ Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu gồm những biểu hiện nào?
Có ba lớp: từ ngữ địa phương, giọng điệu bộc trực, thương ghét rõ ràng, và hình ảnh so sánh lấy từ đời sống ruộng đồng, sông nước miền Nam.
Vì sao thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đậm chất Nam Bộ?
Vì ông sinh ra và sống cả đời ở Nam Kì, sáng tác bằng chữ Nôm cho người bình dân, nhiều tác phẩm được lưu truyền qua lối nói thơ, kể thơ nên gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Làm bài nghị luận về đề này cần tránh lỗi gì?
Tránh chỉ liệt kê từ địa phương mà không phân tích tác dụng, tránh trích sai câu chữ và đừng quên phần đánh giá đóng góp của tác giả.