Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 Cánh diều (hay, chi tiết)

Trả lời nhanh

Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 Cánh diều học kì 1 tập trung ở hai bài: Bài 1 (Thơ và thơ song thất lục bát) với Sông núi nước Nam, Khóc Dương Khuê, Phò giá về kinh, Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ; Bài 2 (Truyện thơ Nôm) với Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du và Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga của Nguyễn Đình Chiểu. Mỗi tác phẩm dưới đây được tóm tắt theo năm ý: tác giả, hoàn cảnh ra đời, thể loại, nội dung và nghệ thuật.

Vì sao cần nắm chắc tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9?

Trong bài kiểm tra và đề thi vào lớp 10, phần mở bài của bài nghị luận văn học luôn cần giới thiệu tác giả, tác phẩm; câu hỏi đọc hiểu cũng hay hỏi về thể thơ, hoàn cảnh sáng tác hay phương thức biểu đạt. Nếu em nhớ chính xác năm ý cơ bản của mỗi văn bản, em sẽ viết mở bài nhanh, lập luận đúng hướng và tránh nhầm lẫn giữa các tác phẩm cùng thời. Cách học hiệu quả là lập một “thẻ ghi nhớ” cho từng tác phẩm theo đúng khung dưới đây rồi ôn lại sau mỗi bài.

Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9 Học kì 1

Bài 1: Thơ và thơ song thất lục bát

Bài học giới thiệu thơ trung đại chữ Hán và thể song thất lục bát của dân tộc. Em cần phân biệt rõ thơ tứ tuyệt (thất ngôn, ngũ ngôn) với song thất lục bát: thể song thất lục bát xen kẽ một cặp câu bảy chữ với một cặp lục bát, vần lưng và vần chân phối hợp, rất hợp để diễn tả nỗi niềm sâu lắng.

Tác giả – tác phẩm: Sông núi nước Nam

  • Tác giả: Chưa xác định chắc chắn; tương truyền bài thơ gắn với Lý Thường Kiệt (1019–1105), danh tướng thời Lý, người chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Tống.
  • Hoàn cảnh ra đời: Theo truyền thuyết, bài thơ vang lên trong đền thờ bên bờ sông Như Nguyệt khi quân ta chặn đánh quân Tống (1076–1077), làm tinh thần quân sĩ dâng cao, quân giặc hoảng sợ.
  • Thể loại: Thơ chữ Hán, thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ).
  • Nội dung: Khẳng định nước Nam có chủ quyền, có vua riêng, ranh giới lãnh thổ đã được “sách trời” định rõ; đồng thời cảnh báo kẻ xâm lược nhất định chuốc lấy thất bại. Bài thơ thường được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.
  • Nghệ thuật: Giọng điệu đanh thép, hùng hồn; lập luận chặt chẽ: hai câu đầu nêu chân lí, hai câu sau rút ra hệ quả tất yếu.

Tác giả – tác phẩm: Khóc Dương Khuê

  • Tác giả: Nguyễn Khuyến (1835–1909), quê làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam; đỗ đầu cả ba kì thi Hương, Hội, Đình nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Ông làm quan một thời gian ngắn rồi cáo về quê, nổi tiếng với thơ viết về làng quê và thơ trào phúng.
  • Hoàn cảnh ra đời: Viết khi nhà thơ nghe tin người bạn thân Dương Khuê (1839–1902), cũng là người đỗ đạt và làm quan, qua đời.
  • Thể loại: Thơ chữ Nôm, thể song thất lục bát.
  • Nội dung: Ôn lại những kỉ niệm gắn bó suốt nhiều năm (cùng đi thi, cùng du ngoạn, cùng chia sẻ thời thế), từ đó bộc lộ nỗi đau đột ngột, sự hụt hẫng và trống vắng khi mất bạn; ca ngợi tình bạn chân thành, thủy chung.
  • Nghệ thuật: Ngôn ngữ giản dị mà thấm thía; kết hợp tự sự với trữ tình; nhịp thơ song thất lục bát chậm, phù hợp với giọng khóc thương.

Tác giả – tác phẩm: Phò giá về kinh

  • Tác giả: Trần Quang Khải (1241–1294), con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông, giữ chức Thượng tướng, có công lớn trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
  • Hoàn cảnh ra đời: Năm 1285, sau các chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử, tác giả theo hộ tống hai vua Trần trở về kinh đô Thăng Long và viết bài thơ này (nguyên tác chữ Hán là “Tụng giá hoàn kinh sư”).
  • Thể loại: Thơ chữ Hán, ngũ ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu năm chữ).
  • Nội dung: Hai câu đầu tái hiện hào khí chiến thắng; hai câu sau thể hiện khát vọng xây dựng đất nước thái bình, bền vững muôn đời.
  • Nghệ thuật: Lời thơ ngắn gọn, hàm súc; giọng điệu khỏe khoắn; ý tưởng được nói thẳng, không cần hình ảnh cầu kì.

Tác giả – tác phẩm: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

  • Tác giả: Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn (sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII). Bản diễn Nôm phổ biến hiện nay tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (có ý kiến cho là của Phan Huy Ích).
  • Hoàn cảnh ra đời: Tác phẩm ra đời vào thời Lê – Trịnh, khi chiến tranh liên miên khiến nhiều người đàn ông phải ra trận, để lại người vợ ở nhà chờ đợi.
  • Thể loại: Ngâm khúc; bản diễn Nôm viết theo thể song thất lục bát.
  • Nội dung: Đoạn trích diễn tả nỗi cô đơn, lẻ loi, sầu muộn của người chinh phụ trong những ngày dài chờ chồng; qua đó thể hiện niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi và gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
  • Nghệ thuật: Miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng qua hành động lặp lại, qua hình ảnh ngọn đèn, bóng người; bút pháp tả cảnh ngụ tình; ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

Bài 2: Truyện thơ Nôm

Truyện thơ Nôm là loại tác phẩm tự sự bằng thơ (chủ yếu là lục bát) viết bằng chữ Nôm, có cốt truyện, nhân vật và lời kể. Hai đỉnh cao được học ở bài này là Truyện Kiều và Truyện Lục Vân Tiên.

Tác giả – tác phẩm: Cảnh ngày xuân

  • Tác giả: Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; đại thi hào dân tộc, được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.
  • Tác phẩm: Trích “Truyện Kiều” (tên khác: “Đoạn trường tân thanh”), truyện thơ Nôm gồm 3254 câu lục bát, dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng được Nguyễn Du sáng tạo lại.
  • Vị trí đoạn trích: Thuộc phần đầu tác phẩm (gặp gỡ và đính ước), kể việc chị em Thúy Kiều đi chơi xuân trong tiết Thanh minh.
  • Nội dung: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi sáng, trong trẻo; không khí lễ hội tảo mộ, du xuân náo nức; cảnh chị em ra về lúc chiều tà nhuốm chút bâng khuâng, báo hiệu những biến cố sắp tới.
  • Nghệ thuật: Bút pháp tả cảnh ngụ tình; từ ngữ giàu chất tạo hình; hệ thống từ láy, từ ghép gợi không khí; kết cấu theo trình tự thời gian của cuộc du xuân.

Tác giả – tác phẩm: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

  • Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu (1822–1888), thường gọi là Đồ Chiểu, sinh ở Gia Định. Ông bị mù từ khi còn trẻ nhưng vẫn dạy học, bốc thuốc, sáng tác; trong thời Pháp xâm lược, ông kiên quyết không hợp tác với giặc, dùng ngòi bút cổ vũ phong trào kháng chiến.
  • Tác phẩm: Trích “Truyện Lục Vân Tiên”, truyện thơ Nôm viết theo thể lục bát, khoảng hơn 2000 câu, ra đời vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, được nhân dân Nam Bộ rất yêu thích.
  • Nội dung: Lục Vân Tiên trên đường đi thi đã một mình đánh tan bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga; sau đó chàng từ chối sự đền ơn. Đoạn trích ca ngợi người anh hùng hành động vì nghĩa, trọng nghĩa khinh tài, và thể hiện vẻ đẹp nết na, ân tình của Nguyệt Nga.
  • Nghệ thuật: Nhân vật được khắc họa chủ yếu qua hành động và lời nói; ngôn ngữ mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói Nam Bộ; kết cấu truyện chương hồi theo mô típ người tốt gặp nạn rồi được đền đáp.

Tác giả – tác phẩm: Kiều ở lầu Ngưng Bích

  • Tác giả: Nguyễn Du (xem phần Cảnh ngày xuân).
  • Vị trí đoạn trích: Thuộc phần Gia biến và lưu lạc của Truyện Kiều: sau khi bị lừa bán, Kiều bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
  • Nội dung: Diễn tả cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi của Kiều; nỗi nhớ Kim Trọng da diết, nỗi thương cha mẹ đầy hiếu thảo; tám câu cuối là chuỗi cảnh vật nhuốm màu tâm trạng, dự báo những sóng gió tiếp theo.
  • Nghệ thuật: Tả cảnh ngụ tình đặc sắc; điệp ngữ “buồn trông” tạo nhịp điệu dồn dập; độc thoại nội tâm giúp người đọc hiểu sâu tâm hồn nhân vật.

Bảng so sánh nhanh để ôn tập

Tác phẩm Tác giả Thể loại Chữ viết
Sông núi nước Nam Tương truyền Lý Thường Kiệt Thất ngôn tứ tuyệt Chữ Hán
Phò giá về kinh Trần Quang Khải Ngũ ngôn tứ tuyệt Chữ Hán
Khóc Dương Khuê Nguyễn Khuyến Song thất lục bát Chữ Nôm
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Đặng Trần Côn (bản diễn Nôm tương truyền của Đoàn Thị Điểm) Ngâm khúc, song thất lục bát Nguyên tác chữ Hán, bản dịch chữ Nôm
Cảnh ngày xuân; Kiều ở lầu Ngưng Bích Nguyễn Du Truyện thơ Nôm, lục bát Chữ Nôm
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga Nguyễn Đình Chiểu Truyện thơ Nôm, lục bát Chữ Nôm

Lỗi thường gặp: nhầm Phò giá về kinh là thất ngôn (thực ra là ngũ ngôn); khẳng định chắc chắn Lý Thường Kiệt là tác giả Sông núi nước Nam (nên dùng “tương truyền”); quên rằng Chinh phụ ngâm có nguyên tác chữ Hán và bản diễn Nôm là của người khác.

Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9 Học kì 2

Phần học kì 2 đang được cập nhật chi tiết. Trước mắt, em có thể ghi nhớ thông tin cốt lõi của một số văn bản trọng tâm trong sách:

  • Chuyện người con gái Nam Xương (Bài 6): của Nguyễn Dữ, nhà văn thế kỉ XVI, trích “Truyền kì mạn lục” viết bằng chữ Hán; kể bi kịch của Vũ Nương, người phụ nữ đức hạnh bị chồng nghi oan, qua đó cảm thông với số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
  • Quê hương (Bài 7): của Tế Hanh, viết năm 1939 khi tác giả xa quê đi học; bức tranh làng chài ven biển và nỗi nhớ quê khắc khoải.
  • Bếp lửa (Bài 7): của Bằng Việt, viết năm 1963 khi tác giả đang học ở nước ngoài; hình ảnh người bà và bếp lửa gắn với tình bà cháu thiêng liêng.
  • Nói với con (Bài 7, tự đánh giá): của Y Phương, nhà thơ dân tộc Tày; lời người cha dặn con về cội nguồn và phẩm chất của người đồng mình.

Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 theo bộ sách khác

Câu hỏi thường gặp

Sông núi nước Nam được viết theo thể thơ gì?

Bài thơ viết bằng chữ Hán theo thể thất ngôn tứ tuyệt, gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ.

Phò giá về kinh ra đời trong hoàn cảnh nào?

Bài thơ được Trần Quang Khải viết năm 1285, khi ông hộ tống hai vua Trần trở về Thăng Long sau chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử trong kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.

Ai là tác giả bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm?

Bản diễn Nôm phổ biến tương truyền của Đoàn Thị Điểm, có ý kiến cho là của Phan Huy Ích; nguyên tác chữ Hán là của Đặng Trần Côn.

Truyện Kiều có bao nhiêu câu thơ?

Truyện Kiều của Nguyễn Du gồm 3254 câu thơ lục bát.

Vì sao Nguyễn Khuyến được gọi là Tam nguyên Yên Đổ?

Vì ông đỗ đầu cả ba kì thi Hương, Hội, Đình và quê ở làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.