Trả lời nhanh
Chạy giặc là bài thơ chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật của Nguyễn Đình Chiểu, viết về cảnh nhân dân Nam Bộ hoảng loạn khi thực dân Pháp đánh Gia Định. Sáu câu đầu tả cảnh đất nước tan tác, hai câu cuối là tiếng hỏi đầy xót xa, trách móc. Bài thơ cho thấy lòng yêu nước, thương dân sâu nặng của nhà thơ mù.
Văn bản bài thơ Chạy giặc
Trước khi tìm hiểu, em hãy đọc chậm cả bài một lượt, chú ý những từ láy và những chỗ đảo trật tự câu:
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này.
Lưu ý: một số bản chép là “cửa tiền” thay vì “của tiền” ở câu 5. Em nên theo đúng bản in trong sách giáo khoa đang học khi làm bài.
I. Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu
1. Cuộc đời
- Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai; người dân thường gọi ông là Đồ Chiểu.
- Quê ở làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh); về sau sống và mất tại Ba Tri, Bến Tre.
- Xuất thân trong gia đình nhà nho, năm 1843 ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định.
- Đang trên đường ra Huế chuẩn bị thi tiếp thì nhận tin mẹ mất, ông bỏ thi về chịu tang; dọc đường ông bị đau mắt nặng rồi mù hẳn.
- Không gục ngã trước số phận, ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Khi Pháp xâm lược, ông giúp nghĩa quân bàn mưu tính kế và khẳng khái từ chối mọi lời dụ dỗ của giặc.
Cuộc đời ông là tấm gương về nghị lực sống và khí tiết: mù mắt nhưng không mù lòng, một đời gắn bó với lẽ phải, với lợi ích của nước và của dân.
2. Sự nghiệp sáng tác
| Giai đoạn | Tác phẩm tiêu biểu | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Trước khi Pháp xâm lược | Truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu | Ca ngợi đạo lí nhân nghĩa, đề cao con người nhân hậu, ngay thẳng, dám đấu tranh vì lẽ phải |
| Sau khi Pháp xâm lược | Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Ngư Tiều y thuật vấn đáp… | Ghi lại một thời đau thương của đất nước, tố cáo tội ác giặc, biểu dương nghĩa sĩ, khích lệ ý chí cứu nước |
Về nghệ thuật, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu viết chủ yếu bằng chữ Nôm, bút pháp trữ tình nồng đậm hơi thở cuộc sống, đậm sắc thái Nam Bộ, lối thơ thiên về kể, có màu sắc diễn xướng.
II. Tìm hiểu chung về bài thơ Chạy giặc
1. Thể loại
Bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, vần ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (Tây – tay – bay – mây – này). Đây là thể thất ngôn bát cú Đường luật. Nhiều tài liệu ghi gọn là “thơ bảy chữ”, nhưng khi trả lời em nên nêu đầy đủ tên thể thơ để chính xác hơn.
2. Hoàn cảnh sáng tác
Hiện chưa có tài liệu nào xác định chắc chắn thời điểm bài thơ ra đời. Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời tác giả và nội dung bài thơ, nhiều người cho rằng Nguyễn Đình Chiểu viết bài thơ ngay sau khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (17/2/1859). Khi ấy ông đang sống ở Gia Định, chính mắt (dù không nhìn được, ông vẫn nghe và cảm nhận) chứng kiến cảnh dân tình li tán.
3. Phương thức biểu đạt, bố cục
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (kết hợp miêu tả và tự sự ở sáu câu đầu).
- Bố cục hai phần: sáu câu đầu – cảnh đất nước, nhân dân khi giặc đến; hai câu cuối – tâm trạng, thái độ của tác giả.
- Nếu phân tích theo kết cấu Đường luật thì chia bốn phần: đề (câu 1–2), thực (3–4), luận (5–6), kết (7–8). Cách chia này không mâu thuẫn với cách chia hai phần ở trên.
Em có thể xem thêm cách chia bố cục ở bài bố cục tại Bố cục bài Chạy giặc – Chân trời sáng tạo.
III. Phân tích chi tiết bài thơ
1. Hai câu đề: giặc đến bất ngờ
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây / Một bàn cờ thế phút sa tay”
- Thời điểm “tan chợ”: lúc đông người nhất, ai cũng đang nghĩ đến chuyện về nhà, quây quần bên gia đình. Chọn đúng thời điểm này, tác giả làm nổi bật sự đột ngột của tai họa.
- “Tiếng súng Tây”: âm thanh xa lạ, dữ dội, báo hiệu chết chóc. Từ “vừa nghe” cho thấy tiếng súng ập đến gần như ngay lập tức, chưa kịp trở tay.
- Hình ảnh “bàn cờ thế phút sa tay”: ẩn dụ cho vận nước. Chỉ một nước đi hỏng là cả thế cờ nghiêng ngả. Câu thơ gợi tình thế bị động, nguy ngập của đất nước và cả nỗi tiếc nuối, xót xa của nhà thơ.
2. Hai câu thực: cảnh nhân dân chạy loạn
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy / Mất ổ đàn chim dáo dác bay”
- Hai hình ảnh “lũ trẻ” và “đàn chim” là những sinh linh bé nhỏ, yếu ớt nhất, nên nỗi đau càng thấm thía.
- Từ láy “lơ xơ”, “dáo dác” diễn tả dáng vẻ bơ vơ, hoảng hốt, không biết chạy về đâu.
- Phép đối chặt chẽ: bỏ nhà / mất ổ; lũ trẻ / đàn chim; lơ xơ chạy / dáo dác bay. Phép so sánh ngầm đặt người ngang hàng với chim: mất nhà thì cũng như chim mất tổ.
- Cách đảo ngữ “bỏ nhà”, “mất ổ” lên đầu câu nhấn mạnh sự mất mát, tạo ấn tượng ám ảnh về cảnh li tán.
3. Hai câu luận: quê hương bị tàn phá
“Bến Nghé của tiền tan bọt nước / Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”
- Bến Nghé, Đồng Nai là những địa danh gắn với vùng Gia Định – Sài Gòn xưa, nơi buôn bán sầm uất, nhà cửa trù phú. Lấy hai địa danh quen thuộc, tác giả cho thấy tai họa không chỉ ở một xóm làng mà lan ra cả vùng.
- “Tan bọt nước”: của cải, cơ nghiệp mong manh như bọt nước, vỡ tan trong chốc lát.
- “Nhuốm màu mây”: nhà cửa tranh ngói bị phá hủy, khói lửa nhuộm xám trời. Hình ảnh gợi cảnh tiêu điều, u ám.
- Hai câu luận đối nhau từng chữ, làm nổi bật sự tương phản giữa cảnh thịnh vượng trước kia và cảnh hoang tàn hiện tại.
Như vậy, sáu câu đầu dựng nên bức tranh toàn cảnh: giặc đến – dân li tán – quê hương tan nát. Mỗi cặp câu đi sâu thêm một bước, từ khoảnh khắc giặc đến, tới con người, rồi tới cả một vùng đất.
4. Hai câu kết: tiếng hỏi đau xót của nhà thơ
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng / Nỡ để dân đen mắc nạn này”
- Câu hỏi tu từ không cần lời đáp: “trang dẹp loạn” là những người có trách nhiệm cầm quân, giữ nước. Chữ “đâu vắng” là lời trách, cũng là nỗi chờ mong.
- “Nỡ để” thể hiện sự đau xót xen lẫn bất bình trước cảnh người dân vô tội phải gánh nạn.
- “Dân đen” là cách nói quen thuộc chỉ người dân thường, tự nó đã chứa sự thương cảm. Nhà thơ đứng về phía nhân dân, nói lên tiếng lòng của họ.
IV. Giá trị nội dung và nghệ thuật
| Nội dung | Nghệ thuật |
|---|---|
| Tái hiện chân thực cảnh quê hương và nhân dân Nam Bộ khi thực dân Pháp tấn công; thể hiện tình yêu nước, lòng thương dân và nỗi đau xót của tác giả. | Thể thất ngôn bát cú Đường luật; từ láy gợi hình; phép đối, đảo ngữ; hình ảnh ẩn dụ (bàn cờ thế, bọt nước, màu mây); câu hỏi tu từ; ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc. |
V. Mẹo nhớ nhanh và lỗi sai thường gặp
- Mẹo nhớ mạch thơ: “Giặc đến – Dân chạy – Đất tan – Hỏi người giữ nước”. Mỗi cặp câu ứng với một ý.
- Lỗi 1: ghi “nhà thơ chứng kiến cảnh Pháp xâm lược nên viết ngay năm 1859” như một sự thật chắc chắn. Đúng ra phải ghi “có ý kiến cho rằng”, vì chưa có tài liệu xác định.
- Lỗi 2: chỉ gọi là “thơ bảy chữ”. Nên viết “thất ngôn bát cú Đường luật”.
- Lỗi 3: cho rằng hai câu cuối ca ngợi quân triều đình. Thực tế đó là lời hỏi mang ý trách móc, xót xa.
- Lỗi 4: nhầm “bàn cờ thế” là cuộc chơi cờ thật. Đây là hình ảnh ẩn dụ cho thế nước.
VI. Bài luyện tập
- Câu hỏi: Vì sao tác giả chọn thời điểm “tan chợ” để mở đầu bài thơ?
Gợi ý: Đó là lúc đông người, thường gắn với sự bình yên, đoàn tụ. Tiếng súng bất ngờ nổ lên đúng lúc này làm nổi bật sự đột ngột, hãi hùng của tai họa và sự tương phản với cuộc sống thường ngày. - Câu hỏi: Chỉ ra biện pháp tu từ và tác dụng trong câu “Mất ổ đàn chim dáo dác bay”.
Gợi ý: Đảo ngữ (đưa “mất ổ” lên trước), từ láy “dáo dác”, hình ảnh ẩn dụ đàn chim mất tổ chỉ người dân mất nhà. Tác dụng: nhấn mạnh nỗi mất mát, gợi cảnh bơ vơ hoảng loạn. - Câu hỏi: Nêu cảm nhận về hai câu kết.
Gợi ý: Câu hỏi tu từ bộc lộ nỗi xót xa trước cảnh dân bị nạn, đồng thời trách những người có trách nhiệm đánh giặc mà vắng bóng. Hai câu cho thấy tấm lòng thương dân và tinh thần yêu nước nồng nàn của nhà thơ.
Tài liệu Ngữ văn 8 liên quan
- Soạn bài Chạy giặc – Chân trời sáng tạo Ngữ văn 8
- Bố cục bài Chạy giặc
- Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 8 – Chân trời sáng tạo
- Tóm tắt tác phẩm Ngữ văn 8 – Chân trời sáng tạo
- Tác giả – tác phẩm: Lòng yêu nước của nhân dân ta
- Văn mẫu lớp 8 – Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 8 – Chân trời sáng tạo
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Chạy giặc thuộc thể thơ gì?
Chạy giặc viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 (Tây, tay, bay, mây, này).
Bài thơ Chạy giặc được viết trong hoàn cảnh nào?
Chưa có tài liệu xác định chính xác thời điểm. Nhiều người cho rằng bài thơ được viết ngay sau khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định ngày 17/2/1859, khi nhân dân Nam Bộ phải bỏ nhà chạy loạn.
Bố cục bài thơ Chạy giặc gồm mấy phần?
Có thể chia hai phần: sáu câu đầu tả cảnh đất nước, nhân dân khi giặc đến; hai câu cuối nói tâm trạng, thái độ của tác giả. Nếu theo kết cấu Đường luật thì gồm đề, thực, luận, kết.
Nội dung chính của bài thơ Chạy giặc là gì?
Bài thơ tái hiện chân thực cảnh quê hương tan tác, nhân dân li tán khi giặc Pháp đến, đồng thời thể hiện lòng yêu nước, thương dân và nỗi xót xa của Nguyễn Đình Chiểu.