Cuộc thi viết “Tác phẩm văn học trong tôi”: dàn ý và bài văn mẫu lớp 9

Trả lời nhanh

Với đề “Tác phẩm văn học trong tôi”, em chọn một bài thơ hoặc truyện mình thật sự yêu thích rồi viết bài nghị luận phân tích: giới thiệu tác phẩm và lí do chọn, phân tích nội dung chủ đề cùng những nét nghệ thuật đặc sắc có dẫn chứng, cuối cùng khẳng định giá trị và dấu ấn tác phẩm để lại trong em. Điểm cộng của bài dự thi là cảm xúc riêng, chân thật.

1. Đề bài và yêu cầu

Đề bài: Câu lạc bộ Văn học trường em phát động cuộc thi viết “Tác phẩm văn học trong tôi”. Em hãy chọn một tác phẩm văn học mình yêu thích (thơ hoặc truyện) để viết bài nghị luận và gửi cho ban tổ chức cuộc thi.

Đây là đề thực hành kiểu bài nghị luận phân tích một tác phẩm văn học trong Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (xem Soạn bài Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học). Khác với bài kiểm tra thông thường, bài dự thi cần:

  • Có luận đề rõ: tác phẩm nói điều gì, hay ở đâu.
  • Có phân tích nội dung và nghệ thuật bằng dẫn chứng cụ thể, không kể lại.
  • Có dấu ấn cá nhân: vì sao tác phẩm này “ở lại” trong em, nó đã thay đổi cách em nghĩ, cảm như thế nào.

2. Chọn tác phẩm thế nào để bài viết nổi bật?

Tiêu chí Câu hỏi tự kiểm tra
Yêu thích thật Em có nhớ được chi tiết, câu thơ, hình ảnh của tác phẩm mà không cần mở sách không?
Đủ chiều sâu Tác phẩm có chủ đề rõ và ít nhất 2–3 nét nghệ thuật để phân tích không?
Có kỉ niệm riêng Em gắn tác phẩm với một trải nghiệm, một người thân, một suy nghĩ của mình không?
Vừa sức Dung lượng tác phẩm có cho phép em phân tích kĩ trong 600–900 chữ không?

3. Dàn ý chung cho bài nghị luận phân tích tác phẩm

Mở bài

  • Dẫn dắt bằng một kỉ niệm hoặc cảm nghĩ riêng về việc đọc.
  • Giới thiệu tác giả, tác phẩm; nêu nhận định khái quát (luận đề).

Thân bài

  1. Khái quát: hoàn cảnh ra đời, thể loại, nội dung chính (2–3 câu).
  2. Phân tích chủ đề: chia thành 2–3 luận điểm, mỗi luận điểm có dẫn chứng (câu thơ, chi tiết truyện) và lời bình.
  3. Phân tích nghệ thuật: với thơ: hình ảnh, biện pháp tu từ, nhịp điệu, thể thơ; với truyện: cốt truyện, tình huống, nhân vật, chi tiết đặc sắc, ngôi kể.
  4. Đánh giá: giá trị của tác phẩm và dấu ấn riêng trong em.

Kết bài

  • Khẳng định lại giá trị tác phẩm.
  • Nêu điều em mang theo sau khi đọc, lời nhắn tới bạn đọc của cuộc thi.

4. Bài văn mẫu 1: Chuyện người con gái Nam Xương – nỗi oan và vẻ đẹp người phụ nữ

Có những trang sách đọc xong ta gấp lại, nhưng có những trang ta mang theo rất lâu. Với tôi, Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là một trang như thế. Tác phẩm viết từ thế kỉ XVI, thuộc tập Truyền kì mạn lục, nhưng nỗi oan của Vũ Nương vẫn khiến người đọc hôm nay day dứt.

Vũ Nương hiện lên là người phụ nữ vẹn toàn. Khi chồng ra trận, nàng một mình nuôi con, chăm mẹ chồng ốm đau, lo ma chay chu đáo như với cha mẹ đẻ. Ở nàng có đủ sự thuỷ chung, hiếu thảo và đảm đang mà xã hội xưa đề cao. Thế nhưng người phụ nữ ấy lại không được sống hạnh phúc.

Bi kịch bắt đầu từ một chi tiết rất nhỏ: cái bóng. Thương con, Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách, bảo đó là cha bé Đản. Trò đùa đầy yêu thương ấy, qua lời ngây thơ của đứa trẻ, lại trở thành “bằng chứng” khiến Trương Sinh vốn đa nghi nổi cơn ghen. Không cho vợ thanh minh, chàng mắng nhiếc, đánh đuổi, đẩy nàng đến bến Hoàng Giang tự vẫn. Chi tiết cái bóng vừa thắt nút vừa mở nút câu chuyện, cho thấy tài dựng truyện của Nguyễn Dữ: hạnh phúc của người phụ nữ mong manh đến mức chỉ một cái bóng cũng đủ làm tan vỡ.

Phần cuối truyện mang đậm yếu tố kì ảo: Vũ Nương sống dưới thuỷ cung, rồi hiện về giữa dòng khi Trương Sinh lập đàn giải oan. Nhưng nàng không trở lại trần gian. Cái kết ấy vừa thoả mong ước của người đọc rằng người tốt được minh oan, vừa nhắc ta rằng trong xã hội cũ, hạnh phúc đã mất thì không thể tìm lại.

Đọc tác phẩm, tôi thương Vũ Nương và cũng hiểu thêm một điều: niềm tin là thứ quý giá nhất trong một gia đình. Đó là lí do Chuyện người con gái Nam Xương mãi là “tác phẩm văn học trong tôi”.

5. Bài văn mẫu 2: Lá đỏ – khúc tráng ca ngắn của Trường Sơn

Tôi vẫn nhớ lần đầu đọc Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi, bài thơ ngắn đến mức đọc một hơi là hết, nhưng dư âm thì kéo dài rất lâu. Bài thơ ra đời năm 1974, khi cả dân tộc đang dồn sức cho trận chiến cuối cùng, ghi lại cuộc gặp gỡ thoáng chốc giữa người lính và cô gái thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn.

Không gian gặp gỡ hiện ra cao rộng và rực rỡ: gió lộng trên đỉnh đèo, rừng lá đỏ như nhuộm lửa lưng trời. Màu đỏ ấy vừa là sắc thiên nhiên, vừa gợi ngọn lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ ra trận. Giữa khung cảnh hùng vĩ, hình ảnh cô gái hiện lên giản dị mà lớn lao: “Em đứng bên đường như quê hương”. Phép so sánh độc đáo biến một cô gái nhỏ bé thành hình ảnh của cả Tổ quốc đang dõi theo, tiếp sức cho đoàn quân.

Phía sau là đoàn quân vội vã hành quân trong bụi đường mịt mù. Nhịp thơ nhanh, câu thơ tự do gợi được khí thế khẩn trương của những ngày “tất cả cho tiền tuyến”. Và rồi lời chào chia tay khép lại bài thơ bằng một lời hẹn đầy tin tưởng: “Hẹn gặp nhau nhé giữa Sài Gòn”. Lời hẹn ấy là niềm tin vào ngày thắng lợi, ngày đất nước thống nhất.

Điều khiến tôi yêu Lá đỏ là cách nhà thơ dùng rất ít chữ mà nói được rất nhiều: tình đồng chí, tình yêu quê hương và niềm lạc quan của cả một thế hệ. Mỗi lần thấy lá đỏ mùa thu, tôi lại nhớ tới những người trẻ năm ấy và thấy mình cần sống xứng đáng hơn.

6. Bài văn mẫu 3: Kiều ở lầu Ngưng Bích – nỗi cô đơn hoá thành cảnh

Trong cả kiệt tác Truyện Kiều, đoạn thơ khiến tôi nghẹn lòng nhất là Kiều ở lầu Ngưng Bích. Bị lừa vào lầu xanh, Kiều phẫn uất định tìm đến cái chết, rồi bị Tú Bà đưa ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Chỉ hai mươi hai câu thơ, Nguyễn Du đã vẽ nên cả một thế giới nội tâm.

Mở đầu là cảnh “khoá xuân”: Kiều bị giam giữa “vẻ non xa, tấm trăng gần”, cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Không gian mênh mông mà con người nhỏ bé, cô độc. Thời gian “mây sớm đèn khuya” lặp lại vô tận. Cảnh ấy chính là tâm trạng “bẽ bàng” của Kiều.

Trong nỗi cô đơn, Kiều nhớ tới Kim Trọng trước, cha mẹ sau. Nàng xót xa vì đã phụ lời thề dưới trăng; nàng lo cha mẹ già “tựa cửa hôm mai” không người chăm sóc. Thứ tự nỗi nhớ ấy rất hợp lí: Kiều đã bán mình để trả chữ hiếu, nên lúc này nỗi day dứt lớn nhất là với chàng Kim. Ở hoàn cảnh đáng thương nhất, Kiều vẫn nghĩ cho người khác trước, đó là vẻ đẹp tâm hồn khiến tôi trân trọng.

Đặc sắc nhất là tám câu cuối với điệp ngữ “Buồn trông” mở đầu từng cặp lục bát: cánh buồm xa xa, cánh hoa trôi, nội cỏ rầu rầu, rồi gió cuốn mặt duềnh, “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”. Cảnh từ xa đến gần, màu từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, như nỗi buồn mỗi lúc một dâng lên, dự báo những bão giông đang chờ Kiều phía trước. Đó là bút pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy của Nguyễn Du.

Đoạn thơ dạy tôi cách đọc thơ: nhìn vào cảnh để thấy người. Và hơn thế, nó cho tôi hiểu vì sao sau hơn hai trăm năm, Thúy Kiều vẫn sống trong trái tim người Việt.

7. Bài văn mẫu 4 (ngắn): Chiếc lược ngà – tình cha giữa chiến tranh

Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, viết năm 1966, là câu chuyện về tình cha con mà tôi không thể đọc lại lần nào mà không xúc động. Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, tám năm sau mới về thăm con. Bé Thu không nhận cha chỉ vì vết thẹo trên má, khác với người trong tấm ảnh. Sự bướng bỉnh ấy không đáng trách, mà chứng tỏ tình yêu thương dành cho người cha thật của em sâu đậm biết bao. Đến lúc chia tay, tiếng gọi “ba” bật ra như xé lòng, cô bé ôm chặt lấy cha không rời. Trở lại chiến trường, ông Sáu dồn hết thương nhớ vào chiếc lược ngà tự tay làm cho con, nhưng chưa kịp trao thì đã hi sinh. Tình huống truyện éo le, ngôi kể qua người bạn của ông Sáu khiến câu chuyện vừa chân thực vừa thấm thía. Tác phẩm cho tôi hiểu rằng chiến tranh có thể chia cắt, nhưng không thể chia lìa tình cha con.

8. Lỗi thường gặp và mẹo ghi điểm

  • Kể lại tác phẩm: chỉ tóm tắt 2–3 câu, dành phần lớn cho phân tích.
  • Cảm xúc chung chung: thay “bài thơ rất hay” bằng chỉ ra cụ thể hay ở hình ảnh nào, biện pháp nào.
  • Thiếu dẫn chứng: mỗi luận điểm cần ít nhất một câu thơ hoặc chi tiết truyện.
  • Chép quá nhiều nguyên văn: với tác phẩm hiện đại, chỉ trích dẫn ngắn những câu đắt giá nhất.
  • Mẹo: đặt một nhan đề riêng cho bài dự thi (như các bài mẫu ở trên) để tạo ấn tượng với ban giám khảo.

9. Luyện tập

  1. Lập dàn ý ngắn cho bài viết về một tác phẩm em đã học ngoài các bài mẫu trên (gợi ý: Cảnh ngày xuân, Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga).
  2. Viết mở bài bằng một kỉ niệm đọc sách của chính em (3–4 câu).
  3. Tìm một chi tiết “đắt” trong tác phẩm em chọn và viết đoạn văn bình chi tiết đó (khoảng 150 chữ).

Ôn lại kiến thức tác phẩm: Kiều ở lầu Ngưng Bích – nội dung, tác giả, tác phẩm, Cảnh ngày xuân, Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.

Câu hỏi thường gặp

Đề “Tác phẩm văn học trong tôi” thuộc kiểu bài nào?

Thuộc kiểu bài nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ hoặc truyện) trong Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, có thêm yêu cầu thể hiện cảm nhận cá nhân.

Nên chọn thơ hay truyện để viết bài dự thi?

Chọn tác phẩm em yêu thích và hiểu sâu nhất. Thơ ngắn dễ phân tích kĩ từng hình ảnh; truyện có nhiều chi tiết, nhân vật để khai thác.

Bài dự thi nên dài bao nhiêu chữ?

Khoảng 600–900 chữ là phù hợp với học sinh lớp 9, đủ để phân tích 2–3 luận điểm có dẫn chứng mà không lan man.

Làm sao để bài viết có dấu ấn riêng?

Mở bài bằng kỉ niệm đọc của chính em, chọn chi tiết em ấn tượng nhất để bình sâu và kết bài bằng điều tác phẩm đã thay đổi trong suy nghĩ của em.