Trả lời nhanh
Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo gồm mười bài, năm bài mỗi học kì. Tập một đọc thơ về quê hương, nghị luận về văn chương, văn bản giới thiệu di tích, truyện truyền kì và truyện thơ Nôm. Tập hai đọc nghị luận về truyền thông và các vấn đề chung, truyện trinh thám, thơ song thất lục bát, văn bản bi kịch và thơ nhìn lại. Dưới đây là tác giả của những bài đã rõ tên, cùng bảng nhan đề để em đối chiếu đúng sách mình đang học.
Học kì 1: năm bài của tập một
Bài 1, Thương nhớ quê hương, học thơ tám chữ và mạch cảm xúc. Quê hương của Tế Hanh, tên khai sinh Trần Tế Hanh (1921–2009), quê Quảng Ngãi, viết năm 1939 khi ông đang học ở Huế, sau in trong Hoa niên. Bài dựng làng chài trong nỗi nhớ: thuyền ra khơi, cá về, màu nước và vị mặn. Bếp lửa của Bằng Việt nói tình bà cháu; ngọn lửa là kỉ niệm và cũng là chỗ nương của đứa cháu đi xa. Vẻ đẹp của Sông Đà gắn với tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân: con sông vừa dữ vừa đẹp, người lái đò đối mặt với nó bằng nghề và sự tỉnh táo. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, viết cuối năm 1980, là lời muốn hóa thành một mùa xuân nhỏ để dâng cho đời. Em không trộn bốn bài thành một “bài thơ quê hương” chung.
Bài 2, Giá trị của văn chương, chuyển sang nghị luận. Văn bản về hình tượng bà Tú phân tích người vợ trong bài Thương vợ của Trần Tế Xương. Ý nghĩa văn chương là bài của Hoài Thanh: văn chương nuôi tình cảm và giúp người đọc sống đầy hơn. Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ Nôm nhiều lớp nghĩa; phần đọc trong sách bàn vì sao một bài thơ ngắn không chỉ có một nghĩa. Văn bản nhan đề Thơ ca là bài nghị luận ngắn về thơ, em chép tên người viết ngay dưới nhan đề trong sách chứ không gán nhầm sang Hoài Thanh.
Bài 3, Những di tích lịch sử và danh thắng, là văn bản thông tin, không phải truyện. Vườn quốc gia Cúc Phương ở Ninh Bình là vườn quốc gia sớm của nước ta, thành lập năm 1962. Ngọ Môn là cửa chính của Hoàng thành Huế. Hoàng thành Thăng Long ở Hà Nội được UNESCO ghi vào danh mục di sản thế giới năm 2010. Cột cờ Thủ Ngữ là di tích bên sông Sài Gòn. Khi viết thuyết minh, em tách vị trí, thời điểm, giá trị và việc cần giữ, không kể thành truyện có nhân vật bịa.
Bài 4, Con người trong thế giới kì ảo, học truyện truyền kì. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, trong Truyền kỳ mạn lục, kể Vũ Nương và cái bóng trên tường mà đứa bé gọi là cha, từ đó thành nỗi oan. Truyện lạ nhà thuyền chài là truyện của Lê Thánh Tông, cùng mạch kì lạ nhưng không cùng tác giả với Nguyễn Dữ. Sơn Tinh, Thủy Tinh là truyền thuyết thời Hùng Vương về núi Tản Viên và lũ lụt. Dế chọi là văn bản đọc mở rộng về thế giới loài vật được kể như người; em lấy dòng tác giả in kèm bài, vì một số bảng tổng hợp để trống tên.
Bài 5, Khát vọng công lí, học truyện thơ Nôm và điển cố. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga là đoạn truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu: người quân tử ra tay giữa đường, không chờ lợi. Thúy Kiều báo ân báo oán là đoạn Truyện Kiều của Nguyễn Du, chỗ Kiều trả ơn và trị kẻ đã đẩy nàng vào oan khuất. Văn bản về nhân vật lí tưởng ở kết thúc cổ tích thần kì giải thích vì sao truyện dân gian thường để người thiện được đền. Tiếng đàn giải oan là bài đọc thêm về tiếng đàn và nỗi oan được cởi; tên tác giả em chép theo sách, không suy từ nhan đề.

Học kì 2: năm bài của tập hai
Phân phối chương trình của bộ sách đặt bài 6 là Sức mạnh của truyền thông. Một số trang tổng hợp gọi bài này là Những vấn đề toàn cầu. Em theo tên in ở bìa bài trong sách. Các văn bản đọc gồm Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, bài phát biểu của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Những điều cần biết để an toàn trong không gian mạng, và Bản sắc dân tộc: cái gốc của mọi công dân toàn cầu. Bài luyện viết nghị luận về một vấn đề cần giải quyết và viết một tờ giới thiệu ngắn. Em phân biệt ý của người viết với ý em đồng ý; trích thì ghi rõ lấy từ đâu.
Bài 7, Hành trình khám phá sự thật, học truyện trinh thám: Chiếc mũ miện dát đá be-rô, Kẻ sát nhân lộ diện, Cách suy luận và Ngôi mộ cổ. Cách đọc là theo manh mối, loại giả thuyết yếu, không kể tuột cảm xúc như thơ. Câu rút gọn và câu đặc biệt được học kèm vì lời thoại trong truyện dùng nhiều.
Bài 8, Những cung bậc tình cảm, học thơ song thất lục bát. Nỗi nhớ thương của người chinh phụ trích Chinh phụ ngâm: nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn. Sách Chân trời sáng tạo ghi bản diễn Nôm là Phan Huy Ích. Nhiều tài liệu cũ vẫn ghi Đoàn Thị Điểm. Hai dòng ấy không cùng một chú thích. Em chép đúng dòng in trong sách đang học, và nếu thầy cô yêu cầu nêu sự khác, em nói rõ hai cách ghi chứ không gộp thành một người. Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải, bút hiệu Á Nam (1895–1983), quê Nam Định, sáng tác năm 1924, mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn Nguyễn Trãi lúc bị giải sang phương Bắc: phận người con là lo việc nước. Bức thư tưởng tượng là văn bản của Lý Lan. Tì bà hành là bài thơ của Bạch Cư Dị, đọc thêm để thấy cùng thể chuyện và tiếng đàn nhưng ở một nền thơ khác.
Bài 9, Những bài học từ trải nghiệm đau thương, học bi kịch. Bốn văn bản: Pơ-liêm, quỷ Riếp và Ha-nu-man; Tình yêu và thù hận; Cái roi tre; Cái bóng trên tường. Em nhận ra xung đột không gỡ được bằng một câu khuyên, và thấy người đọc ở thời này hiểu nhân vật khác người xem thời tác phẩm ra đời. Chưa thấy dòng tác giả dưới nhan đề thì để trống, không điền tên phim hay tên truyện gần giống.
Bài 10, Tiếng vọng những ngày qua, quay lại thơ và sự nhìn lại. Nhớ rừng của Thế Lữ là lời con hổ trong vườn bách thú nhớ núi rừng đã mất; bài nằm trong phong trào Thơ mới. Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử vẽ một mùa xuân làng quê đã tới độ, nắng và trái cây như muốn chín cùng lúc. Kí ức tuổi thơ và Sông Đáy là hai bài đọc thêm; em đối chiếu tác giả trong sách trước khi ghi vào vở ôn. Phần tiếng Việt của bài nói về từ mới và nghĩa mới, không phải về tiểu sử.
Bảng nhan đề để khỏi sót bài
| Bài | Văn bản đọc | Tác giả khi đã rõ |
|---|---|---|
| 1 | Quê hương; Bếp lửa; Vẻ đẹp của Sông Đà; Mùa xuân nho nhỏ | Tế Hanh; Bằng Việt; Nguyễn Tuân; Thanh Hải |
| 2 | Về hình tượng bà Tú; Ý nghĩa văn chương; Thơ ca; Bánh trôi nước | Trần Tế Xương là tác giả Thương vợ; Hoài Thanh; Hồ Xuân Hương |
| 4 | Chuyện người con gái Nam Xương; Truyện lạ nhà thuyền chài; Sơn Tinh, Thủy Tinh | Nguyễn Dữ; Lê Thánh Tông; truyền thuyết |
| 5 | Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga; Thúy Kiều báo ân báo oán | Nguyễn Đình Chiểu; Nguyễn Du |
| 8 | Chinh phụ ngâm; Hai chữ nước nhà; Bức thư tưởng tượng; Tì bà hành | Đặng Trần Côn, diễn Nôm Phan Huy Ích; Trần Tuấn Khải; Lý Lan; Bạch Cư Dị |
| 10 | Nhớ rừng; Mùa xuân chín | Thế Lữ; Hàn Mặc Tử |
Bài 3, 6, 7 và 9 chủ yếu là văn bản thông tin, nghị luận hoặc truyện dịch, trích kịch. Tên người viết nằm dưới nhan đề từng bài. Bảng trên cố ý không điền chỗ chưa đối chiếu được, để em khỏi học nhầm người.
Cách ghi tác giả khi làm bài
Một mục tác giả đủ dùng trong bài kiểm tra có bốn ý: tên, năm sinh năm mất nếu sách có, hoàn cảnh ra đời của đúng văn bản đang học, và một nét về nội dung không dài quá ba câu. Tiểu sử dài mà không gắn với bài đang phân tích thì không được điểm nội dung. Với thơ, em chỉ ra mạch cảm xúc từng khổ. Với truyện, em chỉ ra nhân vật, tình huống và chủ đề. Với văn bản thông tin, em chỉ ra sự kiện và nguồn, không bình như thơ.
Hai bộ sách cùng lớp có mục lục tác giả riêng, không trộn văn bản:
Khi ôn, em học theo số bài trong sách Chân trời sáng tạo, không theo thứ tự sách giáo khoa các năm trước. Quê hương của Tế Hanh, Bếp lửa, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm, Nhớ rừng vẫn là những văn bản có tên tác giả ổn định. Chỗ Phan Huy Ích và Đoàn Thị Điểm, em nhìn chú thích cuối trang trước khi viết vào bài làm.
Câu hỏi thường gặp
Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo có những bài nào?
Mười bài: Thương nhớ quê hương, Giá trị của văn chương, Di tích và danh thắng, Thế giới kì ảo, Khát vọng công lí, Sức mạnh của truyền thông, Khám phá sự thật, Cung bậc tình cảm, Trải nghiệm đau thương, Tiếng vọng những ngày qua.
Quê hương và Bếp lửa là của ai?
Quê hương là của Tế Hanh, viết năm 1939. Bếp lửa là của Bằng Việt. Cả hai nằm ở bài Thương nhớ quê hương.
Bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm trong sách này ghi ai?
Nguyên tác chữ Hán là Đặng Trần Côn. Sách Chân trời sáng tạo ghi bản diễn Nôm là Phan Huy Ích. Nhiều tài liệu cũ ghi Đoàn Thị Điểm. Em theo chú thích trong sách đang học.
Bài 6 tên là Sức mạnh của truyền thông hay Những vấn đề toàn cầu?
Phân phối chương trình của bộ sách ghi Sức mạnh của truyền thông. Một số trang tổng hợp gọi khác. Em theo tên in trong sách.
Hai chữ nước nhà của ai?
Trần Tuấn Khải, bút hiệu Á Nam, sáng tác năm 1924, mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn Nguyễn Trãi.