Trả lời nhanh
Huyện đường là đoạn trích thuộc cảnh I, hồi II của vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến, một vở tuồng đồ (tuồng hài) dân gian khuyết danh, bản chỉnh lí năm 1957 của Hoàng Châu Ký. Đoạn trích dựng cảnh tri huyện và đề lại bàn nhau xử vụ trộm nhà trùm Sò. Qua đó, tác giả dân gian vạch trần thói tham tiền, háo sắc, coi luật pháp như trò đổi chác của bọn quan lại địa phương trong xã hội cũ, bằng tiếng cười châm biếm sắc sảo.
1. Xuất xứ và vị trí của văn bản Huyện đường
- Tác phẩm gốc: vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến. Đây là vở tuồng đồ tiêu biểu, thường được xem là một trong những vở đặc sắc nhất của kho tuồng cổ truyền.
- Tác giả: dân gian, khuyết danh. Vở tuồng có nhiều dị bản, mỗi bản kể khác nhau đôi chút, nhất là đoạn đánh ghen ở cuối vở.
- Văn bản học trong sách: theo bản do Hoàng Châu Ký chỉnh lí (1957), gồm ba hồi. Đoạn Huyện đường nằm ở cảnh I của hồi II.
- Trong chương trình: văn bản thuộc bài học về sân khấu dân gian (Bài 5 – Tích trò sân khấu dân gian, Ngữ văn 10 Kết nối tri thức), học cùng đoạn chèo Xúy Vân giả dại và văn bản thông tin Múa rối nước hiện đại soi bóng tiền nhân.
Cần nhớ: trong sách, tên “Huyện đường” là tên do người biên soạn đặt cho đoạn trích. Đó cũng là hai chữ trên bức hoành phi treo giữa sân khấu, vì vậy mọi chuyện diễn ra trong đoạn đều dưới danh nghĩa “công lí”.
2. Thể loại: tuồng và tuồng đồ
Tuồng (còn gọi là hát bộ, hát bội) là loại hình sân khấu cổ truyền của người Việt. Tuồng kết hợp hát, nói lối, múa và hoá trang ước lệ (mặt vẽ, phục trang tượng trưng cho tính cách nhân vật). Có thể chia tuồng thành hai nhóm lớn:
| Tiêu chí | Tuồng thầy (tuồng pho) | Tuồng đồ (tuồng hài) |
|---|---|---|
| Đề tài | Chuyện triều đình, trung – nịnh, chiến trận | Chuyện đời thường, cảnh làng xã, quan lại địa phương |
| Nhân vật | Vua, tướng, trung thần, gian thần | Tri huyện, lí trưởng, địa chủ, người buôn bán, kẻ trộm, thầy bói… |
| Âm hưởng | Bi tráng, trang trọng | Hài hước, châm biếm |
| Ngôn ngữ | Nhiều điển cố, từ Hán Việt | Gần lời ăn tiếng nói dân gian, nhiều thành ngữ, lối chơi chữ |
Nghêu, Sò, Ốc, Hến là tuồng đồ điển hình. Ngay tên các nhân vật (Nghêu, Sò, Ốc, Hến) đã là cách đặt tên mang tính hài hước, như thể con người ở đây nhỏ bé, tầm thường như những con vật dưới nước.
3. Tóm tắt vở tuồng và đoạn trích Huyện đường
Tóm tắt toàn vở
Một đêm, Ốc (kẻ chuyên đào ngạch) rủ Nghêu (thầy bói) vào nhà trùm Sò (địa chủ giàu có) ăn trộm. Nghêu bị bắt, Ốc chạy thoát. Khi Ốc mang đồ trộm đến bán cho Thị Hến (người đàn bà goá làm nghề buôn bán) thì bị trùm Sò và lí trưởng bắt quả tang. Lí trưởng định nhân dịp này vòi tiền Thị Hến nhưng không thành, thế là cả bọn kéo nhau lên huyện đường.
Ở huyện, Ốc bị phạt tù, Nghêu và lí trưởng bị đánh đòn; lí trưởng và trùm Sò còn phải đút lót tri huyện. Riêng Thị Hến nhờ nhan sắc mà chẳng bị hạch tội, lại được tri huyện và đề lại “chiếu cố”, hẹn hò. Cuối cùng, cả bọn háo sắc (có thêm lí trưởng) sập bẫy khi chạm mặt nhau ở nhà Thị Hến và bị các bà vợ kéo đến đánh ghen một trận.
Tóm tắt đoạn trích
Tri huyện ra công đường, tự xưng danh và tự khoe “nghề” làm quan bằng tiền và roi vọt. Hắn bàn với đề lại về vụ Thị Hến – Nguyễn Sò: kéo dài vụ kiện để moi tiền trùm Sò giàu có, còn đám không có gì để “nắm” như Ốc, Nghêu, lí trưởng thì xử gọn. Đề lại vâng dạ, bày thêm cách lách luật. Lính lệ được sai đi gọi người; trước khi dẫn vào, hắn còn kịp nhắc khéo để nhận tiền “hậu tạ”. Phiên xử bắt đầu, và khi Thị Hến bước vào thì công lí nhường chỗ cho sự háo sắc của quan.
Muốn có bản tóm tắt ngắn để học thuộc, các em xem thêm các mẫu tóm tắt Huyện đường.
4. Bố cục đoạn trích Huyện đường
- Phần 1 (từ đầu đến lời nói lối của tri huyện): tri huyện xuất hiện, tự giới thiệu bản thân và “triết lí” làm quan.
- Phần 2 (cuộc trò chuyện giữa tri huyện và đề lại): hai kẻ bàn nhau cách xử vụ kiện, định sẵn ai bị xử nặng, ai được “để đu đưa”.
- Phần 3 (từ khi đề lại gọi lính lệ đến hết): lính lệ đòi các đương sự, ngầm vòi tiền; phiên xử diễn ra theo đúng kịch bản đã bàn.
5. Phân tích nhân vật trong đoạn trích
Tri huyện – kẻ cầm cân nảy mực mà chỉ biết tiền và sắc
- Màn tự giới thiệu: theo lối nói lối của tuồng, tri huyện tự khai mình đã đủ “đỉnh chung” (bổng lộc), quen “hoa nguyệt” (trăng hoa), làm quan nhờ của cải và roi vọt, phân xử theo đồng tiền. Đây là thủ pháp tự bộc lộ: nhân vật tự vạch mặt mình một cách hồn nhiên. Tiếng cười bật ra vì hắn kể những chuyện xấu xa như kể thành tích.
- Cách xử kiện: hắn không hỏi ai đúng ai sai mà hỏi ai giàu. Câu thành ngữ “nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu” cho thấy nguyên tắc duy nhất là bòn rút được bao nhiêu. Trùm Sò giàu nên phải “để đu đưa” cho lâu; người nghèo thì xử cho xong.
- Ngôn ngữ ẩn ý: những chữ như “ấy” (ngụ ý ăn tiền) cho thấy hắn biết việc mình làm là bẩn nên nói tránh, nhưng giữa bọn đồng loã thì ai cũng hiểu.
- Với Thị Hến: hắn sẵn lòng tha, vì Hến có nhan sắc. Thói háo sắc của tri huyện mở đường cho màn hài hước ở các cảnh sau.
Đề lại – tay chân đắc lực, xảo quyệt không kém
Đề lại lúc nào cũng “vâng ạ”, “quan xử hay lắm”, nhưng thực ra hắn khôn ranh. Hắn chỉ ra chỗ hở của bản án (đã xử Nghêu, Ốc thì lấy lí gì không xử Sò, Hến) để chủ mình tìm cách lách. Câu “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo” vừa là lời tri huyện đáp lại, vừa là lời tự thú của cả bộ máy: luật nằm ở cái lưỡi của quan.
Lính lệ – tham nhũng đến tận cấp thấp nhất
Lính lệ A dặn nhỏ các đương sự rằng quan “bận lắm”, mình phải “bẩm mãi” quan mới chịu xử, tức là kể công để chờ được trả ơn. Lí trưởng và trùm Sò hiểu ý ngay, hứa “hậu tạ”. Chi tiết nhỏ này cho thấy sự thối nát không dừng lại ở viên quan mà thấm xuống tận người gác cửa công đường.
Các đương sự: lí trưởng, trùm Sò, Thị Hến, Ốc, Nghêu
Họ vừa là nạn nhân, vừa là một phần của cái xã hội hối lộ ấy. Lí trưởng từng định vòi tiền Thị Hến, trùm Sò sẵn sàng bỏ tiền mua sự giúp đỡ. Thị Hến thì biết dùng nhan sắc làm vũ khí. Tiếng cười của vở tuồng vì thế không chỉ nhắm vào quan mà nhắm vào cả nếp sống đổi chác trong xã hội cũ.
6. Giá trị nội dung
- Giá trị hiện thực: dựng lại cảnh công đường ở một huyện thời phong kiến, nơi việc xử kiện trở thành dịp kiếm chác. Từ tri huyện, đề lại đến lính lệ đều ăn tiền.
- Giá trị phê phán: lật tẩy bộ mặt tham lam, háo sắc, coi thường luật pháp của quan lại địa phương. Ngoài ra còn phê phán các thói xấu trong dân gian như trộm cắp, đút lót, lợi dụng nhan sắc.
- Giá trị nhân văn: qua tiếng cười, nhân dân bày tỏ khát vọng về một nền công lí thật sự và khẳng định rằng người dân nhìn thấu bản chất của kẻ cai trị.
7. Giá trị nghệ thuật
- Thủ pháp tương phản gây cười: không gian công đường trang nghiêm (hoành phi “Huyện đường”, câu đối, bàn giấy, nghiên mực) đặt cạnh lời nói, việc làm bỉ ổi của quan. Cái nghiêm trang bề ngoài càng làm lộ rõ sự rỗng tuếch bên trong.
- Nhân vật tự bộc lộ: qua màn xưng danh, nói lối, nhân vật tự khai cái xấu của mình. Đây là thủ pháp quen thuộc của sân khấu dân gian.
- Ngôn ngữ đậm chất dân gian: có thành ngữ, lối nói ẩn ý, nói tránh. Lời thoại vừa có tính trình diễn (nói lối có vần nhịp) vừa gần khẩu ngữ.
- Chỉ dẫn sân khấu chi tiết: các lời trong ngoặc đơn mô tả bài trí, hành động, cử chỉ (cười khoái trá, nói nhỏ, chạy vào chắp tay). Nhờ đó người đọc hình dung được vở diễn và người dàn dựng có căn cứ để dựng cảnh.
- Xung đột hài kịch: mâu thuẫn giữa danh (quan xử án) và thực (quan ăn tiền) tạo nên tiếng cười trào phúng nhưng sâu cay.
8. Dàn ý phân tích văn bản Huyện đường
- Mở bài: giới thiệu tuồng đồ Nghêu, Sò, Ốc, Hến và đoạn trích Huyện đường; nêu vấn đề: bức tranh châm biếm cảnh xử kiện ở huyện đường.
- Thân bài:
- Không gian công đường: trang nghiêm bề ngoài, là nền tương phản cho tiếng cười.
- Tri huyện: màn tự xưng danh, cách bàn chuyện xử kiện, thói tham tiền và háo sắc.
- Đề lại và lính lệ: đồng loã, xảo trá, tham nhũng ở mọi cấp.
- Các đương sự: xã hội đổi chác, ai cũng tìm cách mua chuộc.
- Nghệ thuật: tương phản, tự bộc lộ, ngôn ngữ dân gian, chỉ dẫn sân khấu.
- Kết bài: khẳng định giá trị phê phán và sức sống của tuồng đồ; liên hệ ý thức thượng tôn pháp luật và phòng, chống tham nhũng hôm nay.
9. Lỗi thường gặp khi học bài Huyện đường
- Nhầm thể loại: nhiều bạn viết “chèo Nghêu, Sò, Ốc, Hến”. Đây là tuồng đồ. Chèo trong bài học này là Kim Nham (đoạn Xúy Vân giả dại).
- Ghi Hoàng Châu Ký là tác giả: sai. Vở tuồng là sáng tác dân gian, Hoàng Châu Ký chỉ chỉnh lí văn bản.
- Chỉ phê phán tri huyện: bài làm sẽ thiếu nếu bỏ qua đề lại, lính lệ và các đương sự. Đối tượng châm biếm của đoạn trích là cả một bộ máy và cả một nếp sống.
- Bỏ qua chỉ dẫn sân khấu: phần chữ trong ngoặc đơn là đặc trưng của kịch bản sân khấu, rất hay xuất hiện trong câu hỏi đọc hiểu.
10. Câu hỏi luyện tập (có gợi ý)
Câu 1. Vì sao tri huyện muốn để vụ trùm Sò “đu đưa” mà không xử ngay?
Gợi ý: Trùm Sò giàu. Vụ kiện càng kéo dài thì hắn càng phải lo lót nhiều lần. Chi tiết này cho thấy với tri huyện, mỗi vụ kiện là một nguồn thu chứ không phải việc phân xử phải trái.
Câu 2. Chỉ ra tác dụng của sự tương phản giữa cách bài trí công đường và lời bàn bạc của tri huyện với đề lại.
Gợi ý: Bài trí công đường gợi sự uy nghiêm của pháp luật. Lời bàn bạc lại lộ rõ âm mưu ăn tiền. Sự tương phản tạo tiếng cười trào phúng và cho thấy cái “huyện đường” chỉ còn là cái vỏ che đậy sự mục ruỗng.
Câu 3. Chi tiết lính lệ dặn nhỏ các đương sự trước khi vào hầu nói lên điều gì?
Gợi ý: Hắn kể công để chờ được trả ơn. Chi tiết cho thấy nạn ăn tiền đã lan xuống tận cấp thấp nhất, và người dân hiểu rằng muốn được việc ở cửa quan thì phải lót tay từng người.
11. Tài liệu học tiếp
- Soạn bài Huyện đường – Kết nối tri thức
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
- Văn bản Hồn thiêng đưa đường
- Tác gia Nguyễn Trãi
- Soạn văn 10 Kết nối tri thức
- Giải SBT Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
- Đề thi Ngữ văn lớp 10 Kết nối tri thức
- Văn mẫu lớp 10 Kết nối tri thức
Cùng chuyên đề: Bài nằm trong mục lục Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: một hằng số văn hóa Việt Nam – Trần Quốc Vượng. Bài sau: Yêu và đồng cảm (Phong Tử Khải): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung.
Câu hỏi thường gặp
Huyện đường trích từ tác phẩm nào?
Đoạn trích lấy từ cảnh I, hồi II của vở tuồng đồ dân gian Nghêu, Sò, Ốc, Hến, theo bản chỉnh lí năm 1957 của Hoàng Châu Ký.
Ai là tác giả của vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến?
Vở tuồng là sáng tác dân gian, không rõ tác giả. Hoàng Châu Ký là người chỉnh lí văn bản, không phải tác giả.
Nội dung chính của văn bản Huyện đường là gì?
Đoạn trích kể cảnh tri huyện và đề lại bàn nhau xử vụ trộm nhà trùm Sò sao cho kiếm được nhiều tiền nhất. Qua đó, vở tuồng vạch trần thói tham nhũng, háo sắc và lộng quyền của quan lại địa phương trong xã hội phong kiến.
Tuồng đồ khác tuồng thầy như thế nào?
Tuồng thầy viết về chuyện triều đình, trung nịnh, mang âm hưởng bi tráng. Tuồng đồ lấy đề tài từ đời sống thường ngày, nhân vật là người bình thường, quan lại địa phương, mang âm hưởng hài hước, châm biếm.