Trả lời nhanh
Bài thơ “Xuân về” của Nguyễn Bính được viết theo thể thơ bảy chữ (thất ngôn): mỗi câu bảy tiếng, chia thành bốn khổ, gieo vần ở cuối câu. Đây không phải lục bát như nhiều bài thơ nổi tiếng khác của ông, cũng không phải thơ tự do. Bài thơ vẽ bức tranh mùa xuân làng quê Bắc Bộ bình dị, trong trẻo.
Bài thơ Xuân về thuộc thể thơ gì? Giải thích vì sao
Muốn xác định thể thơ, em đếm số tiếng trong mỗi dòng trước tiên. Các câu thơ tiêu biểu của bài như “Gió về từng trận gió hay đi”, “Lá nõn nhành non ai tráng bạc”, “lúa thì con gái mượt như nhung” đều có bảy tiếng. Vì vậy bài thuộc thể thơ bảy chữ (thất ngôn).
Bài thơ được chia thành bốn khổ, mỗi khổ bốn câu và các câu cuối dòng có gieo vần. Ngắt nhịp thường là 4/3 hoặc 2/2/3, nên giọng thơ nhẹ nhàng, gần với khẩu ngữ.
| Dấu hiệu | Xuân về có không? | Kết luận |
|---|---|---|
| Mỗi câu 7 tiếng | Có | Thơ bảy chữ |
| Câu 6 – câu 8 xen kẽ | Không | Không phải lục bát |
| Số tiếng mỗi dòng dài ngắn tuỳ ý | Không | Không phải thơ tự do |
| Niêm luật bằng trắc chặt chẽ, 4 hoặc 8 câu | Không bó buộc | Là thơ bảy chữ hiện đại, không phải thất ngôn Đường luật |
Lỗi sai thường gặp
- Nhầm với lục bát vì Nguyễn Bính nổi tiếng với “Tương tư”, “Chân quê”. Nhưng thể thơ phụ thuộc vào từng bài, không phụ thuộc vào “thương hiệu” của tác giả.
- Ghi “thơ tự do” (một số tài liệu tóm tắt ghi như vậy). Thơ tự do không có số tiếng cố định, còn “Xuân về” đều đặn bảy tiếng mỗi câu.
- Gọi là “thất ngôn bát cú” chỉ vì câu bảy chữ. Bát cú phải có đúng 8 câu và tuân thủ niêm luật, đối ở hai cặp câu giữa. Bài này chia khổ bốn câu nên không phải bát cú.
Mẹo nhớ: “Bảy chữ – bốn khổ – vần cuối câu; xuân quê, không phải lục bát.”
Tác giả Nguyễn Bính
- Nguyễn Bính (1918 – 1966), tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, quê ở làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
- Ông lớn lên trong gia đình nhà nho nghèo, mồ côi mẹ từ nhỏ, chủ yếu tự học và làm thơ từ khi còn rất trẻ.
- Ông được mệnh danh là “thi sĩ của đồng quê” vì thơ ông giàu hồn quê, nhiều hình ảnh làng quê Bắc Bộ như giàn trầu, hoa bưởi, hội chùa, cô gái quê.
- Ông viết nhiều thể thơ, nổi tiếng nhất với lục bát. Các tập thơ và bài thơ quen thuộc gồm “Tâm hồn tôi”, “Lỡ bước sang ngang”, “Hương cố nhân”, “Chân quê”, “Tương tư”.
Nhờ lối nói mộc mạc, ông gần gũi với bạn đọc nhiều thế hệ. Điều này giải thích vì sao bài “Xuân về” không dùng điển cố cầu kỳ mà dùng hình ảnh đời thường.
Tác phẩm Xuân về: những thông tin cần nhớ
| Mục | Nội dung |
|---|---|
| Thể thơ | Thơ bảy chữ (thất ngôn), bốn khổ |
| Hoàn cảnh sáng tác | Tài liệu thường ghi là sáng tác khoảng năm 1937, thời kỳ thơ ông gắn với làng quê trước Cách mạng tháng Tám |
| Phương thức biểu đạt | Biểu cảm kết hợp miêu tả |
| Chủ đề | Niềm vui, sự cảm nhận tinh tế về mùa xuân và cảnh sắc, con người ở làng quê |
| Giọng điệu | Tươi vui, trong trẻo, thân mật |
Bố cục bài thơ
- Khổ 1: Gió xuân bắt đầu về. Nhà thơ nhận ra xuân qua gió đông và qua màu má, đôi mắt của cô gái hàng xóm, chứ không nói thẳng.
- Khổ 2: Nắng xuân tươi sáng, trời tạnh ráo, lá nõn nhành non như được “tráng bạc”, lũ trẻ nô đùa.
- Khổ 3: Không gian mở rộng ra vườn và đồng. Hoa bưởi, hoa cam, ong bướm, lúa xanh mượt “như nhung”.
- Khổ 4: Con người đón xuân: cảnh trẩy hội chùa, các cô gái mặc “yếm đỏ khăn thâm”, dắt bà đi lễ.
Bố cục đi từ cảm nhận mơ hồ (gió, má hồng) đến cảnh vật rồi con người. Mạch thơ rất tự nhiên: càng về sau xuân càng rõ.
Phân tích nội dung theo từng khổ
1. Xuân đến qua gió và màu má
Nguyễn Bính không bắt đầu bằng hoa đào hay pháo Tết mà bằng cái se lạnh đã dịu của gió đông. Cảm nhận mùa xuân gắn với cô gái hàng xóm, tuổi mới lớn, má hồng, mắt trong. Tuổi xuân của người và mùa xuân của đất trời hoà làm một, đó là nét duyên rất riêng của thơ ông.
2. Nắng xuân và niềm vui trẻ nhỏ
Khổ thơ có hình ảnh đẹp nhất bài: “Lá nõn nhành non ai tráng bạc”. Câu hỏi tu từ “ai” làm cho ánh nắng trên lá trở nên như một phép màu. Cảnh sáng, nhẹ và mát chứ không dữ dội, vì “gió về từng trận” chỉ như hơi thở của xuân.
3. Đồng quê xuân về
Từ góc vườn nhà hàng xóm, tầm nhìn mở ra vườn hoa bưởi, hoa cam thơm ngát và cánh đồng lúa “con gái mượt như nhung”. Cách so sánh lúa với cô gái cho thấy tình yêu của nhà thơ với cây lúa và người nông dân. Không khí nhàn nhã của những ngày Tết còn được gợi qua việc “tháng giêng ăn tết ở nhà”.
4. Con người đón xuân
Cảnh trẩy hội chùa là nét văn hoá đầu năm của làng quê Bắc Bộ. Quanh năm vất vả “chân lấm tay bùn”, các cô gái nay diện yếm đỏ khăn thâm. Chi tiết nhỏ ấy cho thấy xuân không chỉ ở thiên nhiên mà còn ở niềm vui và nếp sống của con người.
Giá trị nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: Bức tranh xuân làng quê bình dị, thân thuộc, ấm áp. Qua đó thấy tình yêu quê hương và sự nhạy cảm của tâm hồn thi sĩ.
- Nghệ thuật: Thể bảy chữ nhịp nhàng, vần cuối câu dễ thuộc. Hình ảnh gần gũi (gió, nắng, lá nõn, hoa bưởi, lúa, yếm đỏ). Dùng so sánh, câu hỏi tu từ, từ ngữ gợi tả giàu màu sắc.
Đoạn văn mẫu: nét đặc sắc của khổ thơ về nắng xuân
Trong “Xuân về”, câu thơ “Lá nõn nhành non ai tráng bạc” khiến mình thích nhất. Nguyễn Bính không tả nắng trực tiếp mà để nắng hiện lên qua màu lá: lá non loáng lên như được ai phủ lớp bạc mỏng. Câu hỏi “ai” làm hình ảnh thêm bất ngờ và đáng yêu, như thể xuân là người nghệ sĩ lặng lẽ. Chỉ bảy tiếng mà ánh sáng, màu sắc và niềm vui của ngày xuân đã cùng hiện ra, đúng với tài quan sát tinh tế của thi sĩ đồng quê.
Bài luyện tập có đáp án
- Câu 1. Bài thơ “Xuân về” có bao nhiêu khổ và mỗi câu có mấy tiếng?
Đáp án: Bốn khổ; mỗi câu bảy tiếng. - Câu 2. Vì sao không thể xếp “Xuân về” vào thể lục bát?
Đáp án: Lục bát là cặp câu sáu tiếng và tám tiếng xen kẽ, còn “Xuân về” mọi câu bảy tiếng. - Câu 3. Chỉ ra một biện pháp tu từ trong câu “lúa thì con gái mượt như nhung” và tác dụng.
Đáp án: So sánh, gồm hai lớp “lúa – con gái” và “mượt như nhung”. Tác dụng: lúa non mềm, mướt, tràn đầy sức sống, cho thấy tình cảm trìu mến của nhà thơ. - Câu 4 (vận dụng). Viết 3–4 câu nêu cảm nhận về chi tiết “yếm đỏ khăn thâm”.
Gợi ý: Nêu màu sắc tương phản đỏ – thâm, nét đẹp truyền thống của người phụ nữ quê, niềm vui đón xuân sau những ngày lao động, và nêu cảm xúc của em.
Tài liệu Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo liên quan
- Soạn bài Xuân về – Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo
- Các mẫu tóm tắt Xuân về
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo
- Tác giả – tác phẩm: Giang
- Tác giả – tác phẩm: Buổi học cuối cùng
- Tác giả – tác phẩm: Hịch tướng sĩ
- Tác giả – tác phẩm: Nam quốc sơn hà
- Soạn văn 10 – Chân trời sáng tạo
- Văn mẫu lớp 10 – Chân trời sáng tạo
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian – Chuyên đề Ngữ văn 10 Cánh Diều; Tác giả tác phẩm Ngữ văn 10 Cánh diều: đủ 26 văn bản, 8 bài học; Văn bản Huyện đường: nội dung, xuất xứ, bố cục, giá trị tác phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Xuân về của Nguyễn Bính thuộc thể thơ gì?
Bài thơ thuộc thể thơ bảy chữ (thất ngôn), gồm bốn khổ, mỗi câu bảy tiếng và có gieo vần ở cuối câu. Đây không phải lục bát và không phải thơ tự do.
Bài Xuân về gồm mấy khổ, nội dung từng khổ là gì?
Bài gồm bốn khổ: gió xuân bắt đầu về; nắng xuân và niềm vui trẻ nhỏ; đồng quê với hoa bưởi, hoa cam, lúa xanh; con người đón xuân, trẩy hội chùa.
Nguyễn Bính là nhà thơ như thế nào?
Nguyễn Bính (1918–1966) quê ở Nam Định, được gọi là thi sĩ của đồng quê. Thơ ông mộc mạc, đậm hồn quê Bắc Bộ, nổi tiếng với các bài như Tương tư, Chân quê.
Nét nghệ thuật nổi bật của bài Xuân về là gì?
Hình ảnh thơ chân thực, gần gũi; từ ngữ gợi tả; dùng so sánh (lúa như nhung), câu hỏi tu từ (ai tráng bạc); giọng thơ nhẹ nhàng, trong trẻo.