Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn: tác giả, tác phẩm, nội dung Ngữ văn 10

Trả lời nhanh

Hịch tướng sĩ là bài hịch của Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Đại Vương), viết khoảng trước cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285) để khích lệ tướng sĩ. Bài hịch nêu gương trung thần, vạch tội ác của giặc, bày tỏ nỗi lòng chủ tướng, phê phán lối sống hưởng lạc và kêu gọi học Binh thư yếu lược, quyết chiến quyết thắng.

Khi ôn Hịch tướng sĩ, nhiều bạn chỉ nhớ “đây là bài hịch yêu nước” mà không nắm được mạch lập luận. Bài này giúp em đi từ tác giả, hoàn cảnh ra đời đến từng phần nội dung, đồng thời chỉ ra những chỗ dễ nhầm khi làm bài kiểm tra.

I. Tác giả Trần Quốc Tuấn

  • Tên – tước hiệu: Trần Quốc Tuấn (1231?–1300), được phong Hưng Đạo Đại Vương nên dân gian quen gọi là Trần Hưng Đạo.
  • Xuất thân: con của An Sinh Vương Trần Liễu, thuộc hoàng tộc nhà Trần.
  • Sự nghiệp: là danh tướng kiệt xuất của dân tộc, giữ trọng trách Quốc công Tiết chế (chỉ huy quân đội) trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287–1288), góp công lớn vào chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Hịch tướng sĩ (tên chữ Hán: Dụ chư tì tướng hịch văn), Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư (hai tác phẩm binh thư, nay còn lại không nguyên vẹn).

Lưu ý: một số tài liệu ghi “Đại Việt sử kí toàn thư” là tác phẩm của Trần Quốc Tuấn. Đây là nhầm lẫn, bộ sử này do Ngô Sĩ Liên và các sử thần biên soạn về sau. Trong bài kiểm tra, em chỉ nên nêu Hịch tướng sĩ và Binh thư yếu lược.

II. Tìm hiểu chung về văn bản

1. Thể loại: hịch

Hịch là thể văn nghị luận thời trung đại, do vua chúa, tướng lĩnh hoặc người đứng đầu một phong trào ban ra để kêu gọi, cổ vũ mọi người đứng lên chống giặc, chống thế lực áp bức. Hịch thường viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu, giọng hùng hồn. Vì vậy hịch không phải thể thơ, dù lời văn có vần điệu, đối xứng.

2. Hoàn cảnh sáng tác

Nhà Nguyên – Mông đã nhiều lần đưa quân xâm lược Đại Việt. Trước cuộc xâm lược lần thứ hai (1285), thế giặc rất mạnh, còn một bộ phận tướng sĩ nhà Trần lại chểnh mảng, mải vui chơi, thiếu cảnh giác. Muốn thắng giặc phải thống nhất ý chí toàn quân, nên Trần Quốc Tuấn viết bài hịch này gửi các tì tướng dưới quyền để thức tỉnh, răn dạy và khích lệ họ.

3. Phương thức biểu đạt và đối tượng hướng đến

  • Phương thức chính: nghị luận (kết hợp biểu cảm).
  • Người nói: vị chủ tướng, giọng vừa nghiêm khắc vừa tha thiết.
  • Người nghe: các tì tướng, quân sĩ. Đây là lí do cách xưng hô “ta – các ngươi” xuất hiện suốt bài.

4. Bố cục

Có thể chia bài hịch thành 3 phần (cũng có sách chia 4 phần bằng cách tách riêng đoạn kêu gọi cuối bài, em cần theo cách chia của sách đang học):

Phần Giới hạn Nội dung chính
1 Từ đầu đến “lưu tiếng tốt” Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ được sử sách lưu danh.
2 Tiếp đến “ta cũng vui lòng” Tình hình đất nước, tội ác của giặc và nỗi lòng của chủ tướng.
3 Phần còn lại Phê phán biểu hiện sai trái của tướng sĩ, nêu chủ trương và lời kêu gọi.
Sơ đồ ba phần bố cục của Hịch tướng sĩ dẫn đến mục đích thống nhất ý chí toàn quân
Sơ đồ mạch lập luận ba phần của Hịch tướng sĩ.

III. Phân tích nội dung từng phần

1. Nêu gương trung thần nghĩa sĩ

Tác giả mở đầu bằng các tấm gương trong sử sách như Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh, Cốt Đãi Ngột Lang. Họ có địa vị, hoàn cảnh khác nhau nhưng đều chung một điểm: dám xả thân vì chủ, vì nước, không sợ nguy hiểm.

Vì sao mở bài bằng cách này? Dẫn gương xưa là cách “đặt chuẩn mực” trước khi phê phán. Người nghe tự thấy mình đang đứng ở đâu so với chuẩn mực ấy. Việc nhắc cả Cốt Đãi Ngột Lang, một tướng bên phía đối phương, còn cho thấy lòng trung nghĩa là giá trị chung, ai cũng phải kính trọng.

2. Tình hình đất nước và nỗi lòng chủ tướng

a) Tội ác của giặc. Giặc được tả bằng những hình ảnh ẩn dụ, nhân hoá mang tính miệt thị: “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình”, “đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”; chúng còn đòi ngọc lụa, vơ vét bạc vàng. Cách gọi này lột tả bản chất hống hách, tham lam, tàn bạo. Tác giả cảnh báo việc ngồi yên chịu đựng chẳng khác “đem thịt mà nuôi hổ đói”, tai họa về sau là điều chắc chắn.

b) Nỗi lòng chủ tướng. Đây là đoạn giàu cảm xúc nhất:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể lột da, nuốt gan, uống máu quân thù.”

  • Các hành động “quên ăn”, “vỗ gối” diễn tả nỗi day dứt không yên.
  • Các động từ mạnh “lột da”, “nuốt gan”, “uống máu” cho thấy lòng căm thù đến cực điểm.
  • Câu “dù cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” khẳng định sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.

Câu văn biền ngẫu, nhịp dồn dập khiến lời nói như tuôn ra từ trái tim. Đó là chỗ lí trí và tình cảm hoà làm một.

3. Phê phán sai trái và kêu gọi tướng sĩ

Phê phán. Tác giả chỉ thẳng thói hưởng lạc, vun vén cá nhân: người thì thích chọi gà, cờ bạc, người lo ruộng vườn, vui thú vợ con, người mê săn bắn, rượu ngon, tiếng hát. Rồi ông đặt ra tình huống cảnh báo: nếu giặc đến thì những thú vui ấy còn có ích gì, thậm chí cả chủ lẫn tướng đều bị bắt. Cách nói “nếu… thì…” và các câu hỏi tu từ làm người nghe tự nhận ra lỗi của mình.

Kêu gọi. Ông yêu cầu tướng sĩ:

  1. Biết lo xa, nêu cao cảnh giác, chăm luyện tập võ nghệ.
  2. Học Binh thư yếu lược do chính ông soạn để có phép đánh giặc.
  3. Nhận rõ ranh giới đúng – sai, chính – tà: theo ông là đúng đạo thần chủ, trái lời là kẻ thù.

Lời kết dứt khoát, vạch hai con đường rõ ràng: cùng đồng lòng giữ nước hoặc chịu nhục mất nước.

IV. Giá trị nội dung và nghệ thuật

Giá trị nội dung

Bài hịch thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm của người lãnh đạo, lòng căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến thắng kẻ xâm lược. Tư tưởng cốt lõi: vận mệnh đất nước gắn liền với danh dự, sinh mệnh mỗi người.

Giá trị nghệ thuật

  • Là áng văn chính luận xuất sắc, lập luận chặt chẽ theo trình tự: nêu gương – nêu thực trạng – phê phán – chỉ đường.
  • Kết hợp hài hoà lí lẽ sắc bén với tình cảm sôi nổi.
  • Hình ảnh sinh động (ẩn dụ, nhân hoá, so sánh), câu văn biền ngẫu, nhiều cặp đối, nhịp điệu mạnh mẽ.
  • Giọng điệu linh hoạt: lúc căm giận, lúc xót xa, lúc nghiêm khắc, lúc tha thiết.

V. Mẹo nhớ nhanh

Nhớ mạch bài bằng năm chữ “G”: Gương (trung thần sử sách) – Giặc (tội ác, hống hách) – Giãi bày (nỗi lòng chủ tướng) – Giận trách (phê phán hưởng lạc) – Gọi (kêu gọi học binh thư, quyết chiến). Năm ý này khớp với ba phần bố cục ở trên, dùng làm dàn ý khi viết đoạn phân tích rất tiện.

VI. Lỗi sai thường gặp

  • Viết rằng bài hịch ra đời sau chiến thắng Bạch Đằng. Thực ra bài viết để chuẩn bị tinh thần trước kháng chiến lần hai.
  • Cho rằng đối tượng của bài hịch là toàn dân. Chính xác là các tì tướng, quân sĩ dưới quyền.
  • Chỉ nói “bài hịch kêu gọi đánh giặc” mà bỏ qua nội dung phê phán thói hưởng lạc, thiếu mất một nửa ý chính.
  • Gọi hịch là thể thơ, hoặc liệt kê Đại Việt sử kí toàn thư vào tác phẩm của Trần Quốc Tuấn.
  • Chỉ liệt kê nghệ thuật mà không nêu tác dụng. Mỗi biện pháp (nhân hoá, động từ mạnh, biền ngẫu) cần kèm hiệu quả: khơi lòng căm thù, tạo nhịp dồn dập, tăng sức thuyết phục.

VII. Luyện tập (có đáp án)

Câu 1. Vì sao tác giả mở đầu bằng các gương trung thần thay vì nói ngay tội ác của giặc?

Gợi ý đáp án: Để dựng chuẩn mực đạo nghĩa trước, từ đó người nghe tự so sánh bản thân; cách lập luận từ xa đến gần giúp lời phê phán sau đó có sức nặng, dễ thuyết phục.

Câu 2. Chỉ ra tác dụng của các động từ “quên ăn”, “vỗ gối”, “lột da”, “nuốt gan”, “uống máu”.

Gợi ý đáp án: Hai động từ đầu diễn tả nỗi day dứt, trăn trở đến mất ăn mất ngủ; ba động từ sau diễn tả lòng căm thù tột độ, qua đó thể hiện tình yêu nước mãnh liệt và khơi gợi sự đồng cảm của tướng sĩ.

Câu 3. Em hãy viết 3–4 câu nêu bài học rút ra từ phần phê phán thói hưởng lạc.

Gợi ý đáp án: Mỗi người cần biết đặt trách nhiệm với cộng đồng lên trên thú vui cá nhân; lúc đất nước hoặc tập thể gặp khó khăn, thái độ thờ ơ là điều không thể chấp nhận. Đồng thời phải luôn cảnh giác, rèn luyện bản thân để sẵn sàng khi cần.

Xem thêm

Câu hỏi thường gặp

Hịch tướng sĩ được viết trong hoàn cảnh nào?

Bài hịch được viết khoảng trước cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285), khi giặc mạnh còn một số tướng sĩ chểnh mảng, mải vui chơi. Trần Quốc Tuấn viết để thức tỉnh, răn dạy và khích lệ họ.

Hịch tướng sĩ thuộc thể loại gì và dùng phương thức biểu đạt nào?

Văn bản thuộc thể hịch, một thể văn nghị luận trung đại dùng để kêu gọi đấu tranh. Phương thức biểu đạt chính là nghị luận, kết hợp yếu tố biểu cảm.

Bố cục của Hịch tướng sĩ gồm mấy phần?

Có thể chia thành 3 phần: nêu gương trung thần nghĩa sĩ; tình hình đất nước và nỗi lòng chủ tướng; phê phán sai trái và kêu gọi tướng sĩ. Một số sách tách phần kêu gọi thành phần thứ tư.

Giá trị lớn nhất của Hịch tướng sĩ là gì?

Bài hịch thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc và quyết tâm chiến thắng. Về nghệ thuật, đây là áng văn chính luận mẫu mực, kết hợp lí lẽ chặt chẽ với tình cảm mãnh liệt.