Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến): tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật

Trả lời nhanh

Câu cá mùa thu (Thu điếu) là bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật của Nguyễn Khuyến (1835–1909), nằm trong chùm thơ thu gồm Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu. Bài thơ vẽ cảnh thu thanh, tĩnh, trong trẻo ở làng quê đồng bằng Bắc Bộ và gửi gắm tâm sự u hoài của nhà nho ở ẩn trước thời cuộc. Nét đặc sắc là vần “eo” hiểm hóc, nghệ thuật lấy động tả tĩnh và đối tinh tế.

Văn bản bài thơ

Bài thơ được viết bằng chữ Nôm. Tác giả mất năm 1909 nên văn bản thuộc phạm vi công cộng, em có thể chép lại trọn vẹn để đọc và phân tích:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

I. Tác giả Nguyễn Khuyến

  • Cuộc đời: Nguyễn Khuyến (1835–1909), lúc nhỏ tên Thắng, hiệu Quế Sơn. Ông lớn lên và gắn bó chủ yếu với quê nội ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
  • Khoa cử – quan trường: Ông đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình nên được gọi là “Tam nguyên Yên Đổ”. Tuy đỗ cao nhưng ông chỉ làm quan hơn mười năm, sau đó cáo quan về quê dạy học, sống thanh bạch.
  • Nhân cách: Ông là người tài năng, cốt cách thanh cao, yêu nước thương dân, không chịu hợp tác với chính quyền thực dân Pháp.
  • Sự nghiệp: Ông sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, còn lại hơn 800 bài (thơ, văn, câu đối), chủ yếu là thơ.
  • Đóng góp nổi bật: Thơ Nôm, thơ viết về làng quê và thơ trào phúng. Ông được xem là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam.

II. Tìm hiểu chung về tác phẩm

Nội dung Ghi nhớ
Thể loại Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ)
Ngôn ngữ Chữ Nôm, từ ngữ thuần Việt giàu sức gợi
Xuất xứ Một trong ba bài thơ thu: Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu (điếu = câu cá)
Hoàn cảnh Sáng tác khi tác giả đã cáo quan, về ở ẩn tại quê nhà
Phương thức biểu đạt Biểu cảm, kết hợp miêu tả (có yếu tố tự sự ở hai câu kết)
Vần Vần “eo”: veo, teo, vèo, teo, bèo (câu 1, 2, 4, 6, 8)

III. Bố cục

Bài thơ có hai cách chia thông dụng:

  • Cách 1 (theo kết cấu đề – thực – luận – kết): hai câu đề tả quang cảnh ao thu; hai câu thực tả chuyển động nhẹ của thu; hai câu luận tả bầu trời và ngõ xóm; hai câu kết nói tâm trạng nhà thơ.
  • Cách 2: sáu câu đầu là cảnh thu vùng quê Bắc Bộ; hai câu cuối là tình thu.

IV. Phân tích chi tiết

1. Hai câu đề: không gian ao thu

Nhà thơ không mở bằng cánh đồng hay bầu trời mà bằng một “ao thu” nhỏ. Hai chữ “lạnh lẽo” vừa là cảm giác của da thịt vừa là cảm giác của tâm hồn; “trong veo” cho thấy nước ao tĩnh và sạch. Chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” càng làm khung cảnh nhỏ lại, gần gũi và hơi cô đơn.

Em chú ý: ngay hai câu đầu đã dùng hai vần “eo” liên tiếp, âm thanh khép lại như chính không gian được thu nhỏ.

2. Hai câu thực: chuyển động rất khẽ

  • “Sóng biếc… hơi gợn tí”: sóng chỉ nhích lên một chút theo làn hơi nước, màu “biếc” gợi xanh trong, dịu.
  • “Lá vàng… sẽ đưa vèo”: một chiếc lá lìa cành, bay chao nghiêng. Chữ “vèo” tạo cảm giác nhanh mà nhẹ, đồng thời gợi sự phù du, thoáng buồn.
  • Về nghệ thuật: câu 3 và 4 đối nhau chỉnh (sóng biếc – lá vàng; theo làn hơi – trước gió; gợn tí – đưa vèo). Màu xanh của nước đặt cạnh sắc vàng của lá làm bức tranh thu có điểm nhấn.

3. Hai câu luận: mở ra chiều cao và chiều xa

Từ mặt ao, mắt nhìn ngẩng lên: “tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt”. Bầu trời cao, trong, màu xanh ngắt đặc trưng của thu Bắc Bộ. Rồi tầm nhìn đưa vào “ngõ trúc quanh co”, đường làng uốn lượn, yên ắng; “khách vắng teo” cho thấy không một bóng người.

Hai câu này đối nhau (tầng mây lơ lửng – ngõ trúc quanh co; trời xanh ngắt – khách vắng teo). Điều đáng nghĩ là cảnh càng rộng lại càng vắng: tĩnh lặng đến mức gần như trống trải.

4. Hai câu kết: tình thu

Dáng người hiện ra: “tựa gối ôm cần”, ngồi bất động rất lâu. “Lâu chẳng được” cho thấy việc câu cá chỉ là cái cớ; cái nhà thơ “câu” thật ra là chút thanh thản giữa buồn rầu của thời thế. Câu cuối có tiếng “đớp động” dưới chân bèo, một âm thanh nhỏ kéo hồn người từ nỗi suy tư trở về thực tại, làm không gian càng tĩnh hơn.

Cách hiểu thường gặp: đó là tâm trạng của một nhà nho yêu nước, bất lực trước cảnh nước mất nhà tan, tìm đến thiên nhiên để giữ mình thanh sạch nhưng lòng vẫn nặng nỗi niềm.

V. Giá trị nội dung và nghệ thuật

Nội dung

Bài thơ thể hiện cảm nhận tinh tế về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, tình yêu thiên nhiên, quê hương và tâm trạng thời thế của một nhà nho thanh cao.

Nghệ thuật

  • Gieo vần “eo”: vần hiểm, khó làm nhưng được dùng tự nhiên, góp phần diễn tả không gian nhỏ dần, khép kín, hợp với tâm trạng uẩn khúc.
  • Lấy động tả tĩnh: sóng gợn tí, lá đưa vèo, cá đớp động đều là chuyển động rất nhỏ, càng làm nổi sự yên tĩnh của cảnh thu.
  • Điểm nhìn linh hoạt: từ thuyền câu nhìn mặt ao, nhìn lên trời, nhìn vào ngõ trúc rồi trở về ao thu, thuyền câu (cảnh đi một vòng khép kín).
  • Đối và ngôn ngữ: hai cặp câu đối chỉnh; từ láy, từ thuần Việt (tẻo teo, lơ lửng, quanh co) giản dị mà có hồn.

Mẹo nhớ nhanh

  • Nhớ cấu trúc “ao – lá – trời – ngõ – người”: đi từ mặt nước lên trời, vào ngõ, rồi dừng ở người câu.
  • Nhớ sắc màu: xanh (nước, trời) + vàng (lá) = nền xanh với một điểm vàng.
  • Nhớ vần: “eo” nghĩa là bé, hẹp, vắng, khớp với chủ đề không gian thu nhỏ.

Lỗi sai thường gặp khi làm bài

  • Nhầm “khách” trong “khách vắng teo” là nhà thơ. Thực ra “khách” là người qua lại ngõ trúc, nghĩa là ngõ vắng người.
  • Kết luận bài thơ chỉ tả cảnh. Cần nêu thêm tình: nỗi cô đơn, u hoài của người ở ẩn.
  • Gọi sai là “lấy tĩnh tả động”. Nghệ thuật ở đây là lấy động tả tĩnh.
  • Quên nêu thể thơ và tên chùm thơ thu khi viết phần mở bài.

Đoạn văn mẫu (khoảng 8 câu)

Bức tranh thu trong “Câu cá mùa thu” được dựng nên từ những nét rất nhỏ mà rất thần tình. Mở đầu là một ao thu “lạnh lẽo”, nước “trong veo”, trên đó có chiếc thuyền câu “bé tẻo teo”, cho thấy một không gian hẹp và tĩnh. Sang hai câu thực, sóng chỉ “hơi gợn tí”, chiếc lá vàng “đưa vèo”, chuyển động khẽ làm cái tĩnh thêm rõ. Cao hơn là tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt, xa hơn là ngõ trúc quanh co vắng bóng người. Cảnh rộng ra nhưng càng rộng lại càng vắng. Hai câu kết đưa người đọc đến hình ảnh nhà thơ “tựa gối ôm cần” rất lâu mà không để ý đến cá. Tiếng cá “đớp động” dưới chân bèo chỉ làm ông giật mình trở về với thực tại. Qua đó, ta cảm nhận lòng yêu thiên nhiên và nỗi cô đơn, u hoài của một nhà nho thanh cao trước thời cuộc.

Bài luyện tập

  1. Câu 1. Nêu những hình ảnh, màu sắc tiêu biểu của mùa thu trong bài thơ.
    Gợi ý: ao thu, nước trong veo, thuyền câu bé tẻo teo, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, trời xanh ngắt, ngõ trúc. Màu chủ đạo là xanh, điểm thêm sắc vàng của lá.
  2. Câu 2. Vì sao nói câu thơ “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” là lấy động tả tĩnh?
    Gợi ý: tiếng động rất nhỏ vang lên giữa không gian im ắng nên làm người đọc cảm nhận yên lặng rõ hơn, đồng thời cho thấy người câu đang mải suy tư.
  3. Câu 3. Em hiểu thế nào về tâm sự của nhà thơ qua hai câu kết?
    Gợi ý: câu cá chỉ là cái cớ để tìm sự thanh thản; “lâu chẳng được” cho thấy lòng nặng trĩu, thể hiện nỗi niềm trước thời thế của người đã cáo quan về ở ẩn.

Học tiếp cùng chủ đề thơ thu và Ngữ văn 10 Cánh Diều

Câu hỏi thường gặp

Câu cá mùa thu và Thu điếu có phải là một bài thơ không?

Có. Thu điếu là nhan đề chữ Hán – Việt, “điếu” nghĩa là câu cá, nên thường được gọi là Câu cá mùa thu. Bài thơ nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến cùng Thu vịnh và Thu ẩm.

Bài thơ Câu cá mùa thu thuộc thể thơ gì?

Thất ngôn bát cú Đường luật, gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần “eo” ở các câu 1, 2, 4, 6, 8, có hai cặp câu đối ở câu 3–4 và 5–6.

Nghệ thuật nổi bật của Câu cá mùa thu là gì?

Gieo vần “eo” hiểm hóc mà tự nhiên, lấy động tả tĩnh, điểm nhìn thay đổi linh hoạt, nghệ thuật đối chỉnh và ngôn ngữ thuần Việt giản dị, giàu sức gợi.

Tâm sự của Nguyễn Khuyến trong bài thơ là gì?

Đó là tình yêu thiên nhiên, quê hương và nỗi cô đơn, u hoài của nhà nho thanh cao đã cáo quan về ở ẩn, buồn trước thời cuộc nhưng không thể làm gì.