Hoàn cảnh sáng tác, nội dung bài thơ Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương)

Trả lời nhanh

Tự tình (bài II) không ghi rõ năm sáng tác. Bài thơ nằm trong chùm ba bài Tự tình của Hồ Xuân Hương và ra đời từ chính cuộc đời nhiều trắc trở của nữ sĩ: duyên phận éo le, thân phận lẽ mọn, khát khao hạnh phúc mà không được trọn vẹn. Vì vậy bài thơ là tiếng lòng của một người phụ nữ trong đêm khuya, đồng thời nói thay cho nhiều phụ nữ thời phong kiến.

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tự tình 2

Khi học tác phẩm này, em cần phân biệt hai việc: điều nào tư liệu xác nhận được và điều nào chỉ là suy ra từ nội dung thơ. Cách trả lời như vậy vừa chính xác vừa an toàn khi làm bài kiểm tra.

  • Xuất xứ: bài thơ thuộc chùm thơ Nôm Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương. Chữ “tự tình” nghĩa là tự bày tỏ tình cảm, tự kể nỗi lòng mình.
  • Thời điểm cụ thể: không có tư liệu ghi chính xác năm sáng tác. Với thơ trung đại, điều này rất thường gặp, nên em không nên tự ghi một năm cụ thể.
  • Hoàn cảnh chung: thời đại Hồ Xuân Hương sống (cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX) là xã hội phong kiến suy tàn, người phụ nữ chịu nhiều ràng buộc của lễ giáo như “tam tòng”, chế độ đa thê. Bản thân nữ sĩ có tài, có cá tính mạnh nhưng đường tình duyên lận đận, nhiều nỗi ngang trái.
  • Hoàn cảnh tâm trạng trong bài: một đêm khuya vắng, nhân vật trữ tình thức một mình, uống rượu, ngắm trăng, nghĩ về tuổi xuân trôi đi mà hạnh phúc vẫn chưa trọn.

Mẹo viết bài: khi đề hỏi “hoàn cảnh sáng tác”, hãy trả lời theo ba lớp: (1) nằm trong chùm Tự tình ba bài; (2) gắn với cuộc đời, duyên phận của tác giả; (3) bối cảnh xã hội phong kiến coi nhẹ người phụ nữ. Không cần, và không nên, bịa thêm chi tiết về ngày giờ.

Vài nét về tác giả Hồ Xuân Hương

  • Hồ Xuân Hương (1772 – 1822), người làng Quỳnh Đôi, Nghệ An, sống chủ yếu ở Thăng Long.
  • Cuộc đời lận đận, đường chồng con trắc trở; bà là người tài hoa, phóng túng, cá tính sắc sảo.
  • Sáng tác bằng chữ Nôm và chữ Hán. Tập Lưu hương kí được phát hiện năm 1964, gồm 24 bài chữ Hán và 26 bài chữ Nôm.
  • Phong cách: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ; vừa trào phúng vừa trữ tình; đậm chất văn học dân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng. Bà được gọi là “Bà chúa thơ Nôm”.

Văn bản bài thơ

Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật, viết bằng chữ Nôm.

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!

Bài thơ gieo vần on (dồn, non, tròn, hòn, con) ở các câu 1, 2, 4, 6, 8; hai cặp câu 3–4 và 5–6 đối nhau đúng niêm luật của thơ Đường.

Bố cục và nội dung chính

Phần Câu thơ Nội dung
Đề – Thực Câu 1 – 4 Nỗi cô đơn, buồn tủi và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ giữa đêm khuya
Luận – Kết Câu 5 – 8 Sự phản kháng bướng bỉnh trước số phận và nỗi ngán ngẩm, tuyệt vọng của phận lẽ mọn

Nội dung tổng quát: bài thơ nói lên bi kịch tình duyên của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tâm trạng vừa buồn tủi vừa phẫn uất, cố gắng vượt lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch.

Phân tích chi tiết từng cặp câu

1. Hai câu đề: không gian đêm khuya và thân phận “trơ”

  • Thời gian “đêm khuya”, âm thanh “văng vẳng trống canh dồn”: tiếng trống nghe xa mà vẫn dồn dập, như bước đi gấp gáp của thời gian và sự rối bời trong lòng người.
  • “Trơ” đặt đầu câu (đảo ngữ) nhấn mạnh trạng thái bẽ bàng, tủi hổ, có phần chai lì, thách thức.
  • “Cái hồng nhan”: “hồng nhan” vốn trân trọng chỉ người đẹp, nhưng đi với “cái” lại thành giọng tự mỉa mai, rẻ rúng. Đối lập với “nước non” rộng lớn, con người càng nhỏ bé, cô độc. Nhịp 1/3/3 chùng xuống như một lời than.

2. Hai câu thực: say rồi lại tỉnh, trăng khuyết chưa tròn

  • Rượu thường để quên sầu, nhưng ở đây “say lại tỉnh”: càng say càng tỉnh, càng đau. Vòng luẩn quẩn ấy cho thấy nỗi sầu không thể giải.
  • “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”: trăng sắp tàn mà vẫn khuyết, cũng như tuổi xuân đã muộn mà tình duyên chưa vẹn. Hình ảnh thiên nhiên được dùng để ngụ tình.

3. Hai câu luận: sức sống bướng bỉnh của thiên nhiên và con người

  • Các động từ mạnh “xiên ngang”, “đâm toạc” đi cùng bổ ngữ “mặt đất”, “chân mây”; rêu và đá nhỏ bé mà quyết liệt, không chịu khuất phục.
  • Phép đảo ngữ (động từ lên đầu câu) làm tăng sức mạnh. Đây chính là sự phản kháng, là bản lĩnh của Hồ Xuân Hương: bất bình với số phận, muốn vượt lên ràng buộc.
  • Hai câu này cũng cho thấy cảnh vật cũng mang nỗi uất ức của con người, vừa tả cảnh vừa tả tình.

4. Hai câu kết: ngán ngẩm và thân phận lẽ mọn

  • “Ngán nỗi” là chán ngán, mệt mỏi. Hai chữ “xuân” và hai chữ “lại” lặp lại: “xuân đi” là tuổi xuân qua mất; “xuân lại” là mùa xuân của đất trời quay lại; còn “lại” cuối nghĩa là thêm lần nữa. Thiên nhiên tuần hoàn còn con người thì một đi không trở lại, nên càng đau.
  • “Mảnh tình – san sẻ – tí – con con”: chuỗi từ giảm dần về lượng. “Mảnh” đã nhỏ, “san sẻ” còn chia ra, “tí con con” càng bé xíu. Tình duyên chỉ còn chút ít ỏi, đúng với thân phận lẽ mọn.

Giá trị nội dung và nghệ thuật

  • Nội dung: thể hiện tâm trạng vừa buồn tủi vừa phẫn uất trước duyên phận; khát khao hạnh phúc, không cam chịu sự nghiệt ngã do con người tạo ra. Đó là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của bài thơ.
  • Nghệ thuật: ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, giàu sức gợi; từ ngữ vận dụng sáng tạo (trơ, xiên ngang, đâm toạc, tí con con); đảo ngữ; đối; tả cảnh ngụ tình; vừa trữ tình vừa mang giọng điệu bướng bỉnh.

Sơ đồ nhớ nhanh

  1. Đề: đêm khuya – trống canh – “trơ” → cô đơn, bẽ bàng.
  2. Thực: rượu say lại tỉnh – trăng khuyết → buồn và dở dang.
  3. Luận: rêu – đá xiên ngang, đâm toạc → phản kháng.
  4. Kết: xuân đi xuân lại – tình tí con con → ngán ngẩm, tuyệt vọng.

Lỗi sai thường gặp khi làm bài

  • Ghi năm sáng tác cụ thể hoặc “viết khi chồng mất” dù tư liệu không khẳng định cho riêng bài này.
  • Cho rằng hai câu luận chỉ tả cảnh thiên nhiên; thực ra đó là cảnh ngụ tình, thể hiện sự phản kháng.
  • Hiểu “xuân lại lại” là lỗi lặp chữ. Đây là chủ ý dùng hai nghĩa khác nhau của “lại”.
  • Chỉ nói “buồn” mà quên khía cạnh “phẫn uất, bướng bỉnh” làm nên cá tính Hồ Xuân Hương.

Câu hỏi luyện tập có đáp án

  1. Câu hỏi: Vì sao “say lại tỉnh” lại làm nỗi buồn sâu hơn?
    Đáp án: Rượu vốn giúp quên sầu, nhưng nhân vật say mà không quên được, tỉnh lại càng đối diện với nỗi cô đơn; vòng quay “say – tỉnh” thể hiện nỗi sầu không lối thoát.
  2. Câu hỏi: Chỉ ra một phép tu từ ở hai câu 5–6 và nêu tác dụng.
    Đáp án: Đảo ngữ (“xiên ngang”, “đâm toạc” đặt trước chủ ngữ “rêu”, “đá”) kết hợp động từ mạnh, làm nổi bật sức sống quyết liệt và tâm thế phản kháng.
  3. Câu hỏi: Câu “Mảnh tình san sẻ tí con con” gợi thân phận gì của người phụ nữ?
    Đáp án: Thân phận lẽ mọn, phải chia sẻ tình cảm; tình yêu nhận được rất ít ỏi, nhỏ bé.

Gợi ý một đoạn mở bài

Trong dòng thơ trung đại, hiếm ai nói về nỗi đau của người phụ nữ bằng giọng vừa xót xa vừa bướng bỉnh như Hồ Xuân Hương. Bài Tự tình (bài II) khép lại một đêm khuya cô đơn bằng tiếng thở dài ngán ngẩm, nhưng giữa những câu thơ buồn vẫn ánh lên khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.

Tài liệu Ngữ văn 10 Cánh Diều liên quan

Câu hỏi thường gặp

Hoàn cảnh sáng tác bài Tự tình 2 là gì?

Bài thơ nằm trong chùm ba bài Tự tình của Hồ Xuân Hương, không rõ năm sáng tác. Nó xuất phát từ cuộc đời duyên phận lận đận của tác giả và thân phận người phụ nữ thời phong kiến.

Tự tình 2 viết theo thể thơ nào?

Thể thất ngôn bát cú Đường luật bằng chữ Nôm, gieo vần on ở các câu 1, 2, 4, 6, 8, có đối ở hai cặp câu thực và luận.

Nội dung chính của Tự tình 2 là gì?

Bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, buồn tủi, sự phẫn uất trước duyên phận éo le của người phụ nữ, đồng thời bộc lộ khát vọng hạnh phúc và tinh thần phản kháng.

Câu 'Xuân đi xuân lại lại' hiểu thế nào?

Xuân đi là tuổi xuân qua đi, xuân lại là mùa xuân đất trời quay trở lại, chữ lại cuối là thêm lần nữa. Thiên nhiên tuần hoàn còn tuổi trẻ con người không trở lại nên càng thêm ngán ngẩm.