Trả lời nhanh
Hội lồng tồng là lễ hội xuống đồng đầu xuân của cư dân vùng Việt Bắc, gồm hai phần: phần lễ (cúng thần nông, thành hoàng bằng sản vật nhà nông) và phần hội (ném còn, múa sư tử, hát lượn). Qua đó, người dân gửi gắm ước mong mùa màng tươi tốt và thể hiện tình yêu lao động, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống.
Nắm nhanh văn bản trước khi soạn
Hội lồng tồng là văn bản thông tin giới thiệu một lễ hội truyền thống. Người viết lần lượt cho ta biết lễ hội diễn ra ở đâu, khi nào, có những nghi thức gì và những trò vui nào. Vì vậy, khi trả lời câu hỏi, em nên bám vào các thông tin cụ thể trong bài chứ không nói chung chung về “lễ hội”.
Chữ “lồng tồng” trong tiếng Tày có nghĩa là xuống đồng, tức mở đầu một vụ cày cấy mới. Bạn nào cần đọc kĩ hơn về người viết và bố cục có thể xem bài tác giả, tác phẩm dưới đây: Văn bản Hội lồng tồng – nội dung, tác giả, tác phẩm.
Sơ đồ các ý chính

Trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1 (trang 119): Tóm tắt các ý chính bằng sơ đồ
Em có thể vẽ sơ đồ gồm bốn nhánh như hình trên:
- Thời gian: đầu xuân, từ sau Tết Nguyên đán đến khoảng tiết Thanh minh.
- Vùng miền: vùng Việt Bắc, gắn với cư dân Tày, Nùng.
- Phần lễ: dân làng đem cỗ và sản vật nông nghiệp đến cúng thần nông, thành hoàng ở nơi thờ tự của làng.
- Phần hội: ném còn, múa sư tử, hát lượn.
Lời giải chi tiết hơn: Tóm tắt các ý chính của văn bản Hội lồng tồng bằng sơ đồ.
Câu 2 (trang 119): Sản vật cúng tế liên quan gì đến tục mở hội xuống đồng và tục thờ thành hoàng – thần nông?
Các sản vật như gà, lợn, bánh trái… đều do nhà nông làm ra. Dâng chúng lên thần là để tạ ơn một năm được mùa và cầu cho vụ mới thuận lợi. Hội lại mở đúng lúc bắt đầu xuống đồng, nên lễ vật chính là “lời cầu” của người trồng trọt gửi tới thần nông, thần thành hoàng, những vị được tin là che chở cho làng và mùa màng.
Mẹo ý: khi trả lời, em nối ba mắt xích sản vật nhà nông – thờ thần nông/thành hoàng – mở hội xuống đồng thành một mạch.
Câu 3 (trang 119): Hoạt động trong phần hội và phẩm chất, khả năng của con người
- Hoạt động: ném còn, múa sư tử và hát lượn.
- Ném còn: đòi hỏi sự khéo léo, nhanh nhẹn, khoẻ khoắn, tinh thần thi đua.
- Múa sư tử: thể hiện sức vóc, sự phối hợp nhịp nhàng, không khí rộn ràng.
- Hát lượn: thể hiện tâm hồn giàu tình cảm, yêu mùa xuân, yêu lao động, yêu đời.
Xem thêm: Hoạt động của cư dân trong phần hội.
Câu 4 (trang 119): Mong ước của người dân khi tổ chức hội
Người dân mong mùa màng bội thu, làng bản bình yên, may mắn. Đồng thời, họ cũng muốn ngợi ca vẻ đẹp của mùa xuân, của tình yêu đôi lứa và của cuộc sống lao động. Như vậy, mong ước ở đây vừa mang tính vật chất (no ấm) vừa mang tính tinh thần (vui tươi, gắn bó).
Tham khảo: Người dân gửi gắm mong ước gì khi tổ chức hội lồng tồng.
Câu 5 (trang 120): Thái độ của người viết qua câu văn về hát lượn
Câu văn dùng hàng loạt từ ngữ giàu cảm xúc như “tiếng nói của tình yêu”, “tiếng lòng”, “lành mạnh, trong sáng, đầy sức sống”. Cách dùng này cho thấy người viết không chỉ ghi chép khách quan mà còn trân trọng, yêu mến và tự hào về hát lượn, xem đó là linh hồn của ngày hội xuân Việt Bắc.
Gợi ý diễn đạt: “Người viết đánh giá rất cao hát lượn, coi đó là tiếng lòng trong sáng, khoẻ khoắn của con người miền núi; giọng văn vì thế vừa là thông tin, vừa chan chứa tình cảm.” Lời giải khác: Câu 5 trang 120.
Lỗi thường gặp khi soạn bài này
- Nhầm “phần lễ” với “phần hội”: lễ là cúng tế, mang tính nghi thức; hội là vui chơi, ca hát.
- Chỉ liệt kê tên trò chơi mà không nêu ý nghĩa, phẩm chất con người ở câu 3.
- Ở câu 5, chỉ chép lại câu văn mà không phân tích từ ngữ thể hiện thái độ.
Bài luyện tập có đáp án
Bài 1. Hãy cho biết hai phần của hội lồng tồng khác nhau ở điểm nào?
Gợi ý đáp án: Phần lễ có tính trang nghiêm, cúng thần nông, thành hoàng bằng sản vật nhà nông để cầu mùa. Phần hội có tính vui tươi, gồm các trò chơi, múa, hát nhằm giải trí và gắn kết cộng đồng.
Bài 2. Viết 3–4 câu nêu cảm nhận của em về nét đẹp văn hoá của lễ hội này.
Gợi ý đáp án: Hội lồng tồng cho thấy người dân miền núi luôn gắn bó với đất đai và biết ơn thiên nhiên. Lễ hội vừa cầu mong mùa màng, vừa tạo dịp để mọi người vui chơi, ca hát, tìm hiểu nhau. Nhờ vậy, tình làng nghĩa xóm thêm bền chặt. Em thấy cần giữ gìn những lễ hội như thế.
Bài 3. Vì sao nói hội lồng tồng gắn với nền văn minh nông nghiệp?
Gợi ý đáp án: Vì lễ hội diễn ra vào đầu năm, mở đầu vụ cày cấy; đối tượng thờ là thần nông; lễ vật là sản phẩm nông nghiệp; mục đích chính là cầu cho mùa màng tươi tốt.
Bài soạn liên quan
- Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 116 Tập 1
- Viết văn bản tường trình
- Trình bày ý kiến về vấn đề văn hoá truyền thống trong xã hội hiện đại
- Củng cố, mở rộng lớp 7 trang 126 Tập 1
- Soạn văn 7 – Kết nối tri thức
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Đề thi cuối kì 1 Văn 7 Kết nối tri thức: 2 đề có đáp án, dàn ý phần Viết; Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 13 tập 2 (Kết nối tri thức); Bài thơ Mẹ và quả (Nguyễn Khoa Điềm): tác giả, nội dung, phân tích.
Câu hỏi thường gặp
Hội lồng tồng là lễ hội của vùng nào?
Hội lồng tồng là lễ hội xuống đồng đầu xuân của cư dân vùng Việt Bắc, tiêu biểu là người Tày, Nùng.
Hội lồng tồng gồm những phần nào?
Gồm phần lễ (cúng thần nông, thành hoàng bằng sản vật nhà nông) và phần hội (ném còn, múa sư tử, hát lượn).
Hội lồng tồng thể hiện mong ước gì của người dân?
Người dân mong mùa màng tươi tốt, cuộc sống may mắn, bình yên, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp mùa xuân, tình yêu và lao động.
Văn bản Hội lồng tồng thuộc kiểu văn bản nào?
Đây là văn bản thông tin, giới thiệu một lễ hội truyền thống theo trình tự thời gian, địa điểm, phần lễ và phần hội.