Trả lời nhanh
Trong bài Cuộc chạy đua trong rừng, ngựa con mải soi bóng, chải chuốt cho đẹp và không nghe lời cha đến bác thợ rèn xem lại bộ móng. Vào cuộc đua, móng ngựa lung lay rồi rời hẳn ra, gai nhọn đâm vào chân nên ngựa con thua. Bài học rút ra: đừng chủ quan, xem thường những việc nhỏ khi chuẩn bị, và hãy biết nghe lời khuyên đúng của người lớn.
Bài 1 trang 40–43 có bốn phần: Khởi động, Đọc – hiểu, Viết (ôn chữ hoa U, Ư) và Luyện từ và câu về chủ điểm thể thao. Dưới đây thầy cô hướng dẫn từng câu, giải thích vì sao trả lời như vậy để các em tự làm được bài tương tự.
Mục lục bài học
- Đọc: Cuộc chạy đua trong rừng trang 40, 41
- Viết: Ôn chữ hoa U, Ư trang 42
- Luyện từ và câu trang 43
- Vở bài tập trang 25, 26, 27 – Cuộc chạy đua trong rừng
Khởi động (trang 40)
Đề bài: Thi kể tên và nói về một môn thể thao em biết.
Gợi ý: Các em kể càng nhiều càng tốt: bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, bơi lội, chạy bộ, nhảy dây, cờ vua, đá cầu, võ thuật, kéo co… Sau đó chọn một môn và nói theo trình tự: tên môn – chơi bằng gì – chơi thế nào – lợi ích.
Bài nói mẫu: Em biết môn đá cầu. Dụng cụ chỉ là một quả cầu nhỏ có cắm lông. Người chơi dùng chân tâng cầu, giữ cho cầu không rơi xuống đất hoặc đá qua lưới sang phía bạn. Giờ ra chơi, em và các bạn thường đứng thành vòng tròn để chuyền cầu. Chơi đá cầu giúp đôi chân em khỏe và nhanh nhẹn hơn.
Đọc: Cuộc chạy đua trong rừng (trang 40–42)
Nội dung chính: Ngựa con chuẩn bị cho cuộc thi chạy bằng cách chải chuốt, ngắm mình dưới suối mà bỏ qua lời khuyên kiểm tra bộ móng. Vì chủ quan, chú thua cuộc và nhận ra bài học quý.
Cách đọc: giọng kể vui, hào hứng ở đoạn đầu; giọng ân cần ở lời ngựa cha; giọng nhanh, dồn dập ở đoạn đua; chậm, buồn ở đoạn ngựa con đau chân và dừng lại.
Câu 1. Ngựa con làm gì trước khi tham gia cuộc thi chạy?
Trả lời: Ngựa con mải mê sửa soạn, chải chuốt và ngắm bóng mình dưới dòng suối trong. Chú chỉ lo cho mình thật đẹp.
Mẹo: Tìm ở đoạn đầu bài những từ chỉ hoạt động của ngựa con trước ngày thi.
Câu 2. Ngựa cha nói gì với con?
Trả lời: Ngựa cha khuyên con đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng, vì bộ móng cần cho cuộc đua hơn là vẻ ngoài đẹp đẽ.
Vì sao ngựa cha nói vậy? Với loài ngựa, móng chắc thì mới chạy nhanh và an toàn. Ngựa cha nhìn thấy điều quan trọng thật sự, còn ngựa con chỉ thấy cái đẹp bên ngoài.
Câu 3. Những vận động viên nào tham gia cuộc thi chạy cùng ngựa con?
Trả lời: Cùng thi chạy với ngựa con có chị em nhà hươu, thỏ trắng và thỏ xám.
Lưu ý: Trong bài, bác quạ bay đi bay lại để giữ trật tự cho cuộc thi chứ không chạy thi. Nhiều bạn kể cả bác quạ là vận động viên, các em đọc kĩ lại câu văn nhé.
Câu 4. Vì sao ngựa con thua cuộc?
Trả lời: Đang chạy, bộ móng của ngựa con lung lay rồi rời hẳn ra. Gai nhọn đâm vào chân làm chú đau điếng, phải chạy tập tễnh rồi dừng hẳn lại. Nguyên nhân sâu xa là ngựa con chủ quan, không nghe lời cha đi sửa móng.
Mẹo trả lời câu “Vì sao”: nêu cả nguyên nhân trực tiếp (móng rời, chân bị đau) và nguyên nhân sâu xa (không nghe lời khuyên). Câu trả lời đủ hai ý sẽ được đánh giá cao hơn.
Câu 5. Theo em, sau cuộc đua, ngựa con sẽ nói gì với cha? Vì sao?
Câu này không có đáp án duy nhất, em chỉ cần nói hợp với câu chuyện và giải thích được. Một số gợi ý:
- “Cha ơi, con biết lỗi rồi. Lần sau con sẽ chuẩn bị thật kĩ những thứ cần thiết chứ không chỉ lo làm đẹp.” – Vì ngựa con đã hiểu mình thua do chủ quan.
- “Con cảm ơn cha đã nhắc nhở. Từ nay con sẽ nghe lời cha.” – Vì chú nhận ra lời cha là đúng.
- “Cha giúp con sửa móng để con tập luyện cho cuộc thi sau nhé!” – Vì ngựa con không nản lòng mà muốn sửa sai.
Bài học từ câu chuyện
- Khi làm việc gì, cần chuẩn bị kĩ những điều quan trọng nhất, đừng chỉ chú ý vẻ bề ngoài.
- Không được chủ quan, coi thường việc nhỏ – một chiếc móng lỏng cũng có thể làm hỏng cả cuộc đua.
- Biết lắng nghe lời khuyên đúng của người lớn.
Đọc mở rộng: truyện về thể thao (trang 42)
Yêu cầu: a) Đọc một truyện về thể thao, viết vào Phiếu đọc sách những điều em thấy thú vị. b) Chia sẻ với bạn điều em học được.
Gợi ý phiếu đọc sách:
| Mục | Ví dụ em có thể ghi |
|---|---|
| Ngày đọc | Ghi ngày em đọc |
| Tên truyện | Tên truyện em đọc (ví dụ một truyện về cậu bé tập bơi, về đội bóng nhí…) |
| Tác giả | Ghi đúng tên trên sách (nếu có) |
| Môn thể thao | Bơi lội / bóng đá / cờ vua… |
| Điều thú vị | Một chi tiết hoặc nhân vật em thích nhất |
Chia sẻ mẫu: Đọc truyện về một bạn nhỏ tập bơi, em học được rằng lúc đầu ai cũng sợ nước, nhưng nếu kiên trì tập luyện thì sẽ làm được. Bơi lội còn giúp cơ thể khỏe và biết cách tự bảo vệ mình dưới nước.
Các em có thể đọc tiếp những truyện thể thao ngay trong chủ điểm như Cô gái nhỏ hoá “kình ngư” hoặc Chơi bóng với bố.
Viết: Ôn chữ hoa U, Ư (trang 42)
Yêu cầu: Viết từ ứng dụng Uông Bí và câu ứng dụng: Ước gì em hóa đám mây / Em che cho mẹ suốt ngày bóng râm. (Thanh Hào)
Cách viết chữ hoa U, Ư
- Chữ U (cỡ vừa cao 2,5 ô li): gồm nét móc hai đầu và nét móc ngược phải. Bắt đầu từ đường kẻ 5, viết nét móc hai đầu, sau đó lia bút lên viết nét móc ngược phải, dừng bút ở đường kẻ 2.
- Chữ Ư: viết giống chữ U, rồi thêm một nét râu nhỏ ở đầu nét móc ngược phải.
Lưu ý khi viết từ và câu
- Uông Bí là tên riêng (một thành phố của tỉnh Quảng Ninh) nên viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng: U và B.
- Trong câu thơ, viết hoa chữ đầu mỗi dòng: Ước, Em.
- Khoảng cách giữa các tiếng bằng khoảng một con chữ o; đặt dấu thanh đúng vị trí (dấu sắc trên ơ trong “Ước”, dấu ngã trên a trong “suốt”…; chú ý “râm” có dấu mũ).
Lỗi hay gặp: quên nét râu của chữ Ư, viết chữ U hoa thấp hơn các chữ hoa khác, viết thường chữ “b” trong “Uông Bí”.
Luyện từ và câu (trang 43)
Câu 1. Xếp từ vào nhóm thích hợp
Các từ: cầu lông, cờ vua, bóng chuyền, vợt, quả bóng, đấu cờ, chuyền bóng, đánh cầu.
| a) Chỉ môn thể thao | b) Chỉ dụng cụ thể thao | c) Chỉ hoạt động thể thao |
|---|---|---|
| cầu lông, cờ vua, bóng chuyền | vợt, quả bóng | đấu cờ, chuyền bóng, đánh cầu |
Mẹo phân biệt:
- Hỏi “Em chơi môn gì?” → trả lời được bằng từ đó thì là môn thể thao.
- Hỏi “Cần cầm/dùng cái gì?” → là dụng cụ (sự vật cầm nắm được).
- Từ có chữ chỉ việc làm như đấu, chuyền, đánh → là hoạt động.
Chú ý: “bóng chuyền” (tên môn) khác “chuyền bóng” (hoạt động). Chỉ đổi chỗ hai tiếng mà nghĩa đã khác hẳn!
Câu 2. Đặt 1–2 câu nói về đặc điểm của một dụng cụ thể thao
Câu nêu đặc điểm thường có mẫu: Ai/Cái gì – thế nào? Bộ phận sau phải là từ chỉ đặc điểm (màu sắc, hình dáng, độ cứng, độ nặng…).
- Quả bóng đá của em tròn xoe, có những mảng trắng đen xen kẽ.
- Sợi dây nhảy của chị em dài và rất dẻo.
- Bàn cờ vua có các ô đen trắng xếp ngay ngắn.
Lỗi hay gặp: viết câu kể hoạt động như “Em đá quả bóng” – câu này không nói đặc điểm của dụng cụ.
Câu 3. Viết tiếp 2–3 câu để hoàn thành đoạn văn về lợi ích của việc luyện tập thể thao
Đoạn mẫu 1 (lợi ích cho sức khỏe): Luyện tập thể thao đem lại nhiều lợi ích. Tập thể thao đều đặn giúp cơ thể khỏe mạnh, ít ốm vặt. Chân tay trở nên dẻo dai, nhanh nhẹn hơn. Vì vậy, mỗi ngày em đều dành thời gian chạy bộ hoặc nhảy dây.
Đoạn mẫu 2 (lợi ích cho tinh thần): Luyện tập thể thao đem lại nhiều lợi ích. Sau giờ học căng thẳng, chơi một trận bóng giúp em thấy vui vẻ, thoải mái. Khi chơi cùng đồng đội, em học được cách đoàn kết và biết chờ đến lượt mình. Em sẽ cố gắng chăm tập thể thao hơn.
Vận dụng (trang 43)
Đề bài: Em cần chuẩn bị những gì để có thể tham gia một cuộc thi đấu thể thao?
Hãy liên hệ ngay với bài học của ngựa con: chuẩn bị phải đúng và đủ, không chỉ đẹp.
- Trang phục, dụng cụ: quần áo thể thao gọn gàng, giày vừa chân, buộc dây chắc; kiểm tra dụng cụ (vợt, bóng, dây…) còn tốt không.
- Sức khỏe: tập luyện thường xuyên, ăn uống đủ chất, ngủ đủ giấc, khởi động kĩ trước khi thi.
- Hiểu biết: nắm luật chơi của môn thi.
- Tinh thần: tự tin, trung thực, tôn trọng đối thủ, vui vẻ dù thắng hay thua.
Bài luyện tập thêm (có đáp án)
- Điền từ: Ngựa cha khuyên con đến bác ………… để xem lại bộ …………
Đáp án: thợ rèn; móng. - Xếp nhóm: bơi lội, kính bơi, bơi, cờ tướng, quân cờ, đá bóng. Từ nào chỉ môn thể thao, từ nào chỉ dụng cụ, từ nào chỉ hoạt động?
Đáp án: Môn thể thao: bơi lội, cờ tướng. Dụng cụ: kính bơi, quân cờ. Hoạt động: bơi, đá bóng. - Đúng hay sai? “Bác quạ là một vận động viên trong cuộc đua.”
Đáp án: Sai – bác quạ giữ trật tự cho cuộc thi.
Xem thêm bài học trong chủ điểm
- Bài trước – Bài 4: Tiếng đàn
- Bài 4: Ngọn lửa Ô-lim-pích
- Giải SGK Tiếng Việt lớp 3 – Chân trời sáng tạo
- Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 3 Chân trời sáng tạo
Cùng chuyên đề: Bài nằm trong mục lục Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 3 Kết nối tri thức tuần 15 (có đáp án). Bài sau: Vở bài tập Tiếng Việt lớp 3 Tập 2 trang 20–23 Bài 3: Nghệ nhân Bát Tràng (CTST).
Câu hỏi thường gặp
Vì sao ngựa con thua trong bài Cuộc chạy đua trong rừng?
Đang đua thì bộ móng của ngựa con lung lay rồi rời ra, gai nhọn đâm vào chân nên chú phải dừng lại. Gốc rễ là ngựa con chủ quan, không nghe lời cha đi sửa móng.
Bác quạ có phải là vận động viên trong cuộc đua không?
Không phải. Bác quạ bay đi bay lại để giữ trật tự cho cuộc thi. Các vận động viên chạy cùng ngựa con là chị em nhà hươu, thỏ trắng và thỏ xám.
Câu chuyện Cuộc chạy đua trong rừng khuyên em điều gì?
Làm việc gì cũng phải chuẩn bị kĩ những thứ quan trọng, không chủ quan, không chỉ lo vẻ bề ngoài và cần biết nghe lời khuyên đúng của người lớn.
Từ 'bóng chuyền' và 'chuyền bóng' khác nhau thế nào?
'Bóng chuyền' là tên một môn thể thao, còn 'chuyền bóng' là hoạt động đưa bóng cho người khác. Hai từ có cùng các tiếng nhưng đổi chỗ thì nghĩa khác nhau.