Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 11 Cánh Diều: mục lục hai học kì

Trả lời nhanh

Các tác phẩm văn học lớp 11 trong sách Ngữ văn Cánh Diều được xếp thành chín bài, hai học kì. Học kì một đi từ thơ, truyện thơ và Nguyễn Du sang truyện ngắn cùng văn bản thông tin. Học kì hai tiếp tục truyện ngắn, thơ hiện đại, tùy bút, bi kịch và nghị luận. Trang này là mục lục: mỗi dòng dẫn tới bài tác giả, tác phẩm tương ứng, giữ đúng thứ tự sách.

Sách học kì nào, em cần đọc gì trước

Ngữ văn 11 Cánh Diều không học lần lượt theo niên đại từ trung đại đến hiện đại. Sách gom văn bản theo cụm kĩ năng. Cùng một bài, em vừa đọc tác phẩm, vừa xem tiểu sử tác giả đủ để hiểu hoàn cảnh, rồi luyện đọc hiểu, tiếng Việt và viết. Vì thế một trang tác giả, tác phẩm chỉ cần những ý sẽ dùng khi phân tích, không cần chép cả tiểu sử dài.

Khi mở một văn bản, em nên chuẩn bị bốn mục rồi mới đọc chi tiết:

  • Tác giả: năm sinh năm mất nếu có, vài nét sự nghiệp gắn với đúng văn bản đang học.
  • Xuất xứ: tác phẩm lớn, năm ra đời, đoạn trích nằm ở phần nào.
  • Thể loại: thơ trữ tình, truyện thơ, truyện ngắn, tùy bút, kí, bi kịch hay nghị luận. Thể loại quyết định cách dẫn chứng.
  • Giá trị chính: một câu về nội dung, một câu về nghệ thuật. Hai câu ấy là cái neo khi viết mở bài.

Học kì một rèn cách đọc cái tôi trữ tình và nhân vật. Học kì hai thêm văn xuôi nghệ thuật, kịch và bài nghị luận có luận điểm rõ. Ôn thi giữa kì thì dừng ở hết bài 4. Ôn cuối năm thì đi tiếp bài 5 đến bài 9, đồng thời nhớ lại Chí Phèo, Chữ người tử tù và các đoạn Truyện Kiều vì các bài sau còn quay lại chúng.

Mục lục dưới đây theo đúng thứ tự cũ của sách. Bấm vào tên văn bản để mở trang riêng. Phần cuối chỉ là các môn khác cùng khối lớp, không thuộc chương trình văn.

Mục lục học kì 1

Bài 1: Thơ và truyện thơ

Bài mở đầu đặt cạnh nhau thơ trữ tình hiện đại, truyện thơ dân gian và truyện thơ Nôm. Em tập phân biệt lời thơ ngắn, giàu hình ảnh với lời kể bằng thơ có cốt truyện, nhân vật. Cả bốn văn bản đều xoay quanh tình yêu, nhưng mỗi bài một sắc thái: khát vọng, lưu luyến lúc chia tay, tình đã lỡ, nỗi tương tư vừa gặp.

  • Tác giả – tác phẩm: Sóng
  • Tác giả – tác phẩm: Lời tiễn dặn
  • Tác giả – tác phẩm: Tôi yêu em
  • Tác giả – tác phẩm: Nỗi niềm tương tư

Sóng là thơ của Xuân Quỳnh, mượn hình sóng để nói nỗi nhớ và khát vọng tình yêu của người phụ nữ. Lời tiễn dặn trích truyện thơ dân gian Thái Tiễn dặn người yêu, bản dịch của Mạc Phi, là lời bịn rịn khi đưa người yêu về nhà chồng giữa tục lệ ép buộc. Tôi yêu em là thơ tình của Pu-skin, lời của người đã không được đáp lại nhưng vẫn trân trọng người mình yêu. Nỗi niềm tương tư trích truyện thơ Nôm Bích Câu kì ngộ, gắn với tên tuổi Vũ Quốc Trân, kể nỗi nhớ của Tú Uyên sau lần gặp Giáng Kiều ở hội chùa.

Bài 2: Thơ văn Nguyễn Du

Cả bài dành cho Nguyễn Du và Truyện Kiều. Em cần một tiểu sử gọn: nhà thơ thế kỉ XVIII–XIX, tác giả của truyện thơ Nôm viết bằng lục bát. Ba đoạn trích cho thấy ba lát cắt khác nhau của tác phẩm, không học trùng một kiểu nhân vật.

  • Tác giả – tác phẩm: Nguyễn Du – Cuộc đời và sự nghiệp
  • Tác giả – tác phẩm: Trao duyên
  • Tác giả – tác phẩm: Đọc Tiểu Thanh Kí
  • Tác giả – tác phẩm: Anh hùng tiếng đã gọi rằng

Trao duyên là chỗ Thúy Kiều nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng, vừa lí lẫn tình. Đọc Tiểu Thanh kí là thơ chữ Hán của Nguyễn Du, nỗi đồng cảm với người tài hoa bạc mệnh. Anh hùng tiếng đã gọi rằng nằm ở phần Từ Hải, giọng ngợi ca người anh hùng đội trời đạp đất. Khi viết bài, đừng trộn tâm trạng Kiều ở đoạn trao duyên với khí phách của Từ Hải.

Bài 3: Truyện

Ba truyện cho thấy ba cách dựng người. Em tập tìm tình huống, diễn biến nhân vật và lời kể, chưa vội học thuộc đoạn văn dài.

  • Tác giả – tác phẩm: Chí Phèo
  • Tác giả – tác phẩm: Chữ người tử tù
  • Tác giả – tác phẩm: Tấm lòng người mẹ

Chí Phèo của Nam Cao đặt một người nông dân bị xã hội đẩy vào kiếp lưu manh, rồi thức tỉnh quá muộn. Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân dựng cuộc gặp giữa Huấn Cao và viên quản ngục, nơi cái đẹp của thư pháp đối diện với hoàn cảnh nhà tù. Tấm lòng người mẹ là văn bản của Vích-to Huy-gô, xoay quanh tình mẫu tử và sự hi sinh. Ba bài không cùng một kết luận đạo đức; mỗi bài một xung đột riêng.

Bài 4: Văn bản thông tin

Khác với truyện, văn bản thông tin nhằm cung cấp hiểu biết. Em đọc để lấy ý chính, số liệu hoặc nhận định, rồi tập tóm tắt và đánh giá độ tin cậy của nguồn, không phân tích nhân vật.

  • Tác giả – tác phẩm: Phải coi pháp luật như khí trời để thở
  • Tác giả – tác phẩm: Tạ Quang Bửu – Người thầy thông thái
  • Tác giả – tác phẩm: Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ

Bài của Lê Quang Dũng bàn vai trò của pháp luật trong đời sống hằng ngày. Bài của Nguyễn Hàm Châu dựng chân dung nhà khoa học Tạ Quang Bửu ở tư cách người thầy. Bài của Phạm Văn Tình nhìn cách người trẻ đang dùng tiếng Việt. Cả ba đều là văn bản thông tin, lời văn giải thích chứ không hư cấu.

Mục lục học kì 2

Bài 5: Truyện ngắn

Học kì hai mở lại truyện ngắn, lần này có cả truyện nước ngoài và truyện Việt Nam đương đại. Em so sánh ngôi kể, tình huống và cách kết.

  • Tác giả – tác phẩm: Trái tim Đan-kô
  • Tác giả – tác phẩm: Một người Hà Nội
  • Tác giả – tác phẩm: Tầng hai

Trái tim Đan-kô là truyện trong tập của Mác-xim Go-rơ-ki: chàng trai móc tim mình thắp sáng đường cho đám đông ra khỏi rừng tối. Một người Hà Nội của Nguyễn Khải nhìn phẩm chất người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền trong những đổi thay của thành phố. Tầng hai của Phong Điệp kể cô gái thuê trọ tầng dưới, mải chạy theo việc làm giàu, rồi nhận ra hạnh phúc bình dị của gia đình chủ nhà ở tầng trên. Đừng gọi nhầm Trái tim Đan-kô là thơ chỉ vì có hình ảnh đẹp; đó vẫn là truyện.

Bài 6: Thơ

Bốn bài thơ cho bốn giọng mùa, sông, làng và buổi sớm. Em luyện tìm hình ảnh trung tâm, mạch cảm xúc và nét riêng của từng tác giả Thơ mới hoặc thơ sau này.

  • Tác giả – tác phẩm: Đây mùa thu tới
  • Tác giả – tác phẩm: Sông Đáy
  • Tác giả – tác phẩm: Đây thôn Vĩ Dạ
  • Tác giả – tác phẩm: Tình ca ban mai

Đây mùa thu tới của Xuân Diệu đón mùa thu bằng giác quan tinh, có cả niềm vui và nỗi qua đi của đất trời. Sông Đáy của Nguyễn Quang Thiều là lời với dòng sông quê, gắn kí ức và thân phận. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử vừa là bức tranh xứ Huế vừa là nỗi nhớ người. Tình ca ban mai của Chế Lan Viên hướng về sự sống buổi sớm, giọng thơ thôi thúc chứ không u buồn như Vĩ Dạ. Bốn bài không thay thế được cho nhau trong một đề nghị luận về mùa thu.

Bài 7: Tùy bút, tản văn, truyện kí

Nhóm này nằm giữa văn xuôi nghệ thuật và ghi chép có thật. Ngôi thứ nhất, chất trữ tình và cảnh vật cụ thể quan trọng hơn cốt truyện.

  • Tác giả – tác phẩm: Thương nhớ mùa xuân
  • Tác giả – tác phẩm: Vào chùa gặp lại
  • Tác giả – tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Thương nhớ mùa xuân của Vũ Bằng là nỗi nhớ Hà Nội từ phương Nam, mùa xuân hiện qua món ăn, phố và thời tiết. Vào chùa gặp lại của Minh Chuyên ghi một cuộc gặp gỡ nơi cửa thiền, giọng tản văn. Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường là tùy bút về sông Hương và Huế, câu văn giàu hình ảnh. Khi nghị luận, em trích cảnh và cảm xúc, tránh kể lại như truyện có mở nút.

Bài 8: Bi kịch

Bi kịch đọc bằng xung đột, lời thoại và lựa chọn của nhân vật, không phải bằng lời người kể. Em chú ý ai nói, nói trong tình huống nào, và cái giá của quyết định ấy.

  • Tác giả – tác phẩm: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
  • Tác giả – tác phẩm: Thề nguyền và vĩnh biệt
  • Tác giả – tác phẩm: Tôi muốn được là tôi toàn vẹn

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trích vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, xung đột giữa người nghệ sĩ muốn xây cái đẹp và đám đông đói khổ. Thề nguyền và vĩnh biệt là đoạn kịch của Sếch-xpia, lời chia tay của đôi trẻ trước định mệnh. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn của Lưu Quang Vũ đặt nhu cầu được sống đúng mình trong quan hệ gia đình và xã hội. Cả ba đều là kịch; đừng tóm tắt như truyện ngắn bỏ mất lời thoại.

Bài 9: Văn bản nghị luận

Bài cuối học cách đọc một bài nghị luận: luận điểm, lí lẽ, bằng chứng, giọng người viết. Em cũng tập viết theo cấu trúc ấy, không kể chuyện thay cho lập luận.

  • Tác giả – tác phẩm: Tôi có một giấc mơ
  • Tác giả – tác phẩm: Một thời đại trong thi ca
  • Tác giả – tác phẩm: Lại đọc Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Tôi có một giấc mơ là diễn văn của Mác-tin Lu-thơ Kinh, lập luận về quyền được đối xử bình đẳng. Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh nhìn tinh thần Thơ mới, cái tôi và sự gặp gỡ giữa thơ Việt với thơ phương Tây. Bài của Nguyễn Đăng Mạnh đọc lại Chữ người tử tù, tức là nghị luận về một truyện em đã học ở học kì một. Muốn hiểu bài cuối, em cần nhớ tình huống Huấn Cao cho chữ.

Cách dùng mục lục khi ôn

Đừng học một mạch ba mươi tiểu sử. Mỗi tuần lấy một bài trong mục lục, làm một phiếu gồm bốn mục đã nêu ở trên, rồi viết năm câu phân tích một chi tiết. Cuối tuần, xếp phiếu theo thể loại: thơ một chồng, truyện một chồng, kịch một chồng, nghị luận một chồng. Đề kiểm tra thường hỏi đúng một văn bản, nhưng phần tiếng Việt và làm văn có thể lấy ngữ liệu từ bất kì bài nào trong học kì.

Khi đề yêu cầu so sánh, chỉ ghép những văn bản cùng một câu hỏi. Sóng với Tôi yêu em cùng nói tình yêu nhưng khác ngôi và khác kết. Đây mùa thu tới với Đây thôn Vĩ Dạ cùng có cảnh nhưng khác mạch cảm xúc. Chí Phèo với Chữ người tử tù cùng là truyện, khác hẳn cách Nguyễn Tuân lí tưởng hóa cái đẹp. Viết so sánh mà không có điểm giống và điểm khác thì bài thành hai bài phân tích đặt cạnh nhau.

Các đường dẫn bên dưới thuộc môn khác của lớp 11, bộ Cánh Diều, chỉ để em mở khi cần bài tập Toán, Khoa học hay ngoại ngữ. Chúng không thay cho phiếu tác giả, tác phẩm.

  • Giải sgk Toán 11 – Cánh diều
  • Soạn văn 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Vật Lí 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Hóa 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Lịch sử 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Địa lí 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Sinh 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Tin học 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Tiếng Anh 11 – Cánh diều
  • Giải SGK Hoạt động trải nghiệm 11 – Cánh diều
  • Giải sgk GDQP 11 – Cánh diều
  • Giải sgk Kinh tế Pháp luật 11 – Cánh diều

Câu hỏi thường gặp

Ngữ văn 11 Cánh Diều có những bài nào?

Chín bài: Thơ và truyện thơ; Thơ văn Nguyễn Du; Truyện; Văn bản thông tin; Truyện ngắn; Thơ; Tùy bút, tản văn, truyện kí; Bi kịch; Văn bản nghị luận.

Học kì một học đến văn bản nào?

Đến hết bài 4, văn bản cuối là Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ. Truyện ngắn Trái tim Đan-kô đã sang học kì hai.

Lời tiễn dặn của ai?

Đó là đoạn trích truyện thơ dân gian Thái Tiễn dặn người yêu, khuyết danh, bản dịch tiếng Việt dùng trong sách là của Mạc Phi.

Chí Phèo và Chữ người tử tù học ở bài nào?

Cả hai nằm ở bài 3, học kì một. Bài 9 có thêm một văn bản nghị luận đọc lại Chữ người tử tù.

Ôn tác giả tác phẩm cần chép hết tiểu sử không?

Không. Với mỗi văn bản, đủ bốn ý: tác giả gắn với bài, xuất xứ, thể loại, một câu nội dung và một câu nghệ thuật.