Chữ người tử tù thuộc thể loại nào? Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 11

Trả lời nhanh

Chữ người tử tù thuộc thể loại truyện ngắn. Tác phẩm của Nguyễn Tuân có dung lượng ngắn, xoay quanh một tình huống duy nhất là cuộc gặp gỡ éo le giữa tử tù Huấn Cao và viên quản ngục, tập trung vào cảnh cho chữ. Truyện lúc đầu có tên “Dòng chữ cuối cùng” (1939), sau in trong tập “Vang bóng một thời” (1940).

Vì sao Chữ người tử tù là truyện ngắn?

Muốn trả lời chắc chắn trong bài kiểm tra, em đừng chỉ nhớ tên thể loại. Hãy nêu được dấu hiệu nhận biết. Chữ người tử tù có đủ các dấu hiệu của một truyện ngắn:

  • Dung lượng ngắn: đọc một mạch là hết, không trải dài qua nhiều chương như tiểu thuyết.
  • Ít nhân vật: chỉ có ba nhân vật chính là Huấn Cao, viên quản ngục và thầy thơ lại.
  • Một tình huống truyện then chốt: kẻ tử tù và người coi ngục gặp nhau trong nhà giam, nhưng vị thế đạo đức bị đảo ngược. Người giữ chìa khoá lại là người cúi đầu.
  • Lát cắt cuộc đời: truyện không kể trọn đời Huấn Cao. Nhà văn chỉ chọn một khoảng thời gian ngắn trong nhà lao và dồn sức vào đêm cho chữ.
  • Chi tiết cô đọng, giàu ý nghĩa: mỗi chi tiết như tấm lụa trắng, bó đuốc, mùi mực thơm, lời khuyên “thiên lương” đều mang tầng nghĩa biểu tượng.

Nếu đề hỏi sâu hơn về sắc thái, em có thể bổ sung: đây là truyện ngắn có chất lãng mạn, thiên về ca ngợi cái đẹp và con người tài hoa. Giọng văn trang trọng, cổ kính, đậm màu sắc hoài niệm.

Những lỗi dễ nhầm khi xác định thể loại

Nhầm lẫn Vì sao sai
Tuỳ bút Tuỳ bút là sở trường của Nguyễn Tuân, nhưng tác phẩm này có cốt truyện, nhân vật, tình huống rõ ràng nên là truyện ngắn. Tuỳ bút thì ghi chép tự do, đậm cái tôi cảm xúc của tác giả.
Tiểu thuyết Tiểu thuyết phản ánh nhiều số phận, nhiều tuyến sự kiện, dung lượng lớn. Ở đây chỉ có một tình huống và một đêm quyết định.
Truyện truyền kì Truyền kì có yếu tố kì ảo, thần tiên, ma quái. Truyện của Nguyễn Tuân hoàn toàn là cảnh đời thực, không có yếu tố hoang đường.
Kí Kí chú trọng ghi chép người thật việc thật, ít hư cấu. Chữ người tử tù có hư cấu nghệ thuật rõ rệt.

Mẹo nhớ: thấy nhân vật + tình huống + cốt truyện ngắn gọn thì nghĩ đến truyện ngắn. Thấy ghi chép, suy tưởng, cái tôi tác giả bao trùm thì nghĩ đến tuỳ bút, kí.

Tác giả Nguyễn Tuân (1910 – 1987)

  • Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn. Ông chịu ảnh hưởng của người cha là một nhà nho có tài và có tinh thần yêu nước.
  • Thời trẻ, ông từng bị đuổi học và bị bắt giam vì tham gia một cuộc phản đối giáo viên người Pháp xúc phạm người Việt. Trải nghiệm này góp phần hình thành tinh thần không chịu khuất phục trong sáng tác của ông.
  • Ông được xem là bậc thầy về tiếng Việt, có vốn hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực như hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, thể thao. Ông có lối viết độc đáo, tài hoa, luôn tìm cái “độc đáo” và cái đẹp.
  • Sở trường là tuỳ bút và kí. Ông cũng viết truyện ngắn đặc sắc trước Cách mạng tháng Tám.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tình chiến dịch (1960).

Hiểu về tác giả giúp em lí giải vì sao nhân vật Huấn Cao, một con người tài hoa và khí phách, lại được viết bằng thái độ nâng niu như vậy. Đó cũng là con người mà Nguyễn Tuân khao khát tìm thấy trong cuộc đời.

Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ

  • Truyện ban đầu mang tên Dòng chữ cuối cùng, đăng trên tạp chí Tao đàn năm 1939.
  • Khi in trong tập truyện Vang bóng một thời (1940), tác phẩm đổi tên thành Chữ người tử tù.
  • Cả tập Vang bóng một thời viết về những nét đẹp xưa còn sót lại như thú chơi chữ, uống trà, thả thơ. Giữa xã hội Âu hoá, nhà văn trân trọng những giá trị truyền thống đang mai một.

Em chú ý sự khác nhau giữa hai tên gọi. “Dòng chữ cuối cùng” nhấn vào sự kiện đêm cuối của người tù. “Chữ người tử tù” nhấn vào con người: người sắp chết mà vẫn tạo ra cái đẹp.

Tóm tắt Chữ người tử tù

Huấn Cao là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa chống triều đình, bị bắt và kết án tử hình. Ông nổi tiếng viết chữ rất đẹp. Viên quản ngục ở nhà lao tỉnh Sơn vốn mê chữ, nghe tin Huấn Cao bị giải đến thì mừng như gặp người tri kỉ. Ông ta biệt đãi người tù nhưng bị Huấn Cao khinh miệt.

Về sau, Huấn Cao hiểu ra viên quản ngục là người biết trọng cái đẹp, “một tấm lòng trong thiên hạ”. Đêm trước hôm bị hành hình, ông cho chữ ngay trong buồng giam. Ông còn khuyên viên quản ngục bỏ nghề, về quê để giữ cái thiên lương cho lành vững. Viên quản ngục xúc động, cúi lạy và thưa: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.”

Bố cục

  1. Phần 1 (từ đầu đến “rồi sẽ liệu”): cuộc trò chuyện của viên quản ngục và thầy thơ lại về Huấn Cao, bộc lộ nỗi lòng của người coi ngục.
  2. Phần 2 (tiếp đến “phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”): cảnh nhận tù, sự biệt đãi của viên quản ngục và thái độ khinh bạc ban đầu của Huấn Cao. Sau đó Huấn Cao cảm nhận được tấm lòng của người coi ngục.
  3. Phần 3 (còn lại): cảnh cho chữ, đỉnh cao của tác phẩm, và lời khuyên của Huấn Cao.

Chi tiết hơn, xem bố cục trong bài riêng: Bố cục bài Chữ người tử tù chuẩn nhất – Cánh diều.

Giá trị nội dung

  • Xây dựng hình tượng Huấn Cao với ba vẻ đẹp: tài hoa (viết chữ đẹp), khí phách (coi thường cường quyền, nhìn cái chết nhẹ nhàng) và thiên lương trong sáng (biết quý tấm lòng, khuyên người giữ lương thiện).
  • Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp gắn với cái tâm, không thể đem ra đổi chác bằng tiền bạc hay uy quyền. Nó có thể toả sáng ngay giữa chốn ngục tù dơ bẩn.
  • Cái đẹp bất tử: con người có thể bị tiêu diệt, nhưng cái đẹp và thiên lương vẫn sống mãi qua tấm lụa chữ.
  • Tấm lòng yêu nước thầm kín: ngợi ca người anh hùng thất thế, bày tỏ sự gắn bó với giá trị dân tộc.

Giá trị nghệ thuật

  • Tình huống truyện độc đáo: hai con người đối lập về địa vị nhưng cùng ở một thế giới giá trị của cái đẹp.
  • Thủ pháp đối lập: ánh sáng – bóng tối, cái đẹp – cái dơ bẩn, tử tù – quản ngục, “khúm núm” – “dậm tô nét chữ”. Sự đối lập tôn người nghệ sĩ lên cao.
  • Dựng cảnh giàu tính tạo hình: cảnh cho chữ được tác giả gọi là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Căn buồng chật, mạng nhện, phân chuột, phân gián, bó đuốc, tấm lụa trắng, mùi mực thơm.
  • Ngôn ngữ cổ kính, trang trọng, giàu nhạc tính, nhiều từ Hán Việt, hợp với đề tài xưa.

Gợi ý đọc tiếp và luyện đề

Bài luyện tập có đáp án

Câu 1. Chữ người tử tù ban đầu có tên là gì, in ở đâu, năm nào?
Đáp án: “Dòng chữ cuối cùng”, đăng trên tạp chí Tao đàn năm 1939. Sau đổi tên và in trong tập Vang bóng một thời (1940).

Câu 2. Nguyễn Tuân nổi tiếng nhất với thể loại nào? Vì sao không thể xếp Chữ người tử tù vào thể loại đó?
Đáp án: Tuỳ bút và kí. Chữ người tử tù có cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện, có hư cấu, nên là truyện ngắn.

Câu 3. Nêu tình huống truyện và nói ý nghĩa của nó.
Đáp án: Tình huống: người tử tù được kẻ coi ngục kính trọng, trong khi hai người đứng ở hai phía đối lập của xã hội. Ý nghĩa: làm nổi bật sức mạnh của cái đẹp và thiên lương, giúp hai con người “tri âm” vượt qua ranh giới thân phận.

Lưu ý khi làm bài

  • Câu hỏi “thể loại” chỉ cần ngắn gọn: truyện ngắn. Nếu đề yêu cầu giải thích, nêu 2–3 dấu hiệu nêu ở trên.
  • Phần trích dẫn nên chọn ngắn, đúng ý, tránh chép dài.
  • Khi phân tích, luôn gắn đặc điểm thể loại (tình huống, nhân vật, chi tiết) với giá trị nội dung. Đó là cách ghi điểm cao hơn việc kể lại cốt truyện.

Câu hỏi thường gặp

Chữ người tử tù thuộc thể loại nào?

Chữ người tử tù là truyện ngắn của Nguyễn Tuân, in trong tập Vang bóng một thời (1940). Tác phẩm có một tình huống truyện, ít nhân vật và tập trung vào cảnh cho chữ.

Chữ người tử tù có phải tuỳ bút không?

Không. Nguyễn Tuân giỏi tuỳ bút nhưng Chữ người tử tù có cốt truyện, nhân vật, tình huống và yếu tố hư cấu nên thuộc thể loại truyện ngắn.

Chữ người tử tù ban đầu có tên là gì?

Truyện ban đầu có tên Dòng chữ cuối cùng, đăng trên tạp chí Tao đàn năm 1939. Khi in trong Vang bóng một thời, tác giả đổi thành Chữ người tử tù.

Chữ người tử tù có mấy phần bố cục?

Có thể chia thành ba phần: cuộc trò chuyện của quản ngục và thầy thơ lại, cảnh nhận tù và sự biệt đãi Huấn Cao, cuối cùng là cảnh cho chữ cùng lời khuyên của Huấn Cao.