Trả lời nhanh
Bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: tám câu, mỗi câu bảy chữ, viết bằng chữ Nôm. Bài gieo vần bằng “ông” (sông, chồng, đông, công, không), có bố cục bốn phần đề – thực – luận – kết, và hai cặp câu 3–4, 5–6 đối nhau chặt chẽ.
Nguyên văn bài thơ
Trần Tế Xương (1870–1907) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng cuối thế kỷ XIX. Bài thơ được viết để tỏ lòng thương và biết ơn bà Tú.
- Quanh năm buôn bán ở mom sông,
- Nuôi đủ năm con với một chồng.
- Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
- Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
- Một duyên hai nợ âu đành phận,
- Năm nắng mười mưa dám quản công.
- Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
- Có chồng hơn nữa cũng như không!
Vì sao đây là thất ngôn bát cú Đường luật?
Muốn trả lời chắc chắn, em đối chiếu bài thơ với từng đặc điểm của thể thơ này:
| Đặc điểm | Biểu hiện trong “Thương vợ” |
|---|---|
| Số câu, số chữ | 8 câu, mỗi câu đúng 7 chữ (thất ngôn bát cú) |
| Vần | Gieo vần bằng “ông” ở các câu 1, 2, 4, 6, 8: sông – chồng – đông – công – không |
| Luật | Luật bằng: chữ thứ hai của câu 1 là “năm” (thanh bằng); các câu sau thay đổi bằng – trắc theo quy tắc |
| Niêm | Câu 1 niêm với câu 8, câu 2 – câu 3, câu 4 – câu 5, câu 6 – câu 7 (chữ thứ hai cùng thanh bằng hoặc trắc) |
| Đối | Câu 3–4 đối nhau, câu 5–6 đối nhau |
| Bố cục | Đề (câu 1–2), thực (3–4), luận (5–6), kết (7–8) |
Phân tích phép đối ở hai cặp câu
Phép đối là chỗ dễ ghi điểm khi làm bài. Em có thể trình bày thành bảng như sau:
| Cặp câu | Vế trên | Vế dưới |
|---|---|---|
| Câu 3–4 (thực) | Lặn lội (từ láy) | Eo sèo (từ láy) |
| thân cò | mặt nước | |
| khi quãng vắng | buổi đò đông | |
| Câu 5–6 (luận) | Một duyên hai nợ | Năm nắng mười mưa |
| (số từ đối số từ) | (số từ đối số từ) | |
| âu đành phận | dám quản công |
Thể thơ này giúp bài thơ hay hơn ở chỗ nào?
- Cô đọng: chỉ tám câu mà dựng được chân dung bà Tú, nỗi vất vả và cả lời tự trách của ông Tú.
- Đối làm nổi sự vất vả: hai cặp đối đặt cảnh “quãng vắng” cạnh “đò đông”, “một duyên” cạnh “hai nợ” khiến gánh nặng hiện lên dồn dập.
- Chất Việt hoá: thể thơ có gốc từ Trung Quốc nhưng Tế Xương viết bằng chữ Nôm, dùng hình ảnh dân gian (thân cò, eo sèo, năm nắng mười mưa), nên gần gũi như lời nói thường ngày.
- Kết bất ngờ: hai câu kết phá vỡ vẻ trang nghiêm của thể thơ bằng tiếng chửi đời, chuyển từ thương vợ sang tự nhận mình là kẻ “như không”.
Mẹo nhớ và lỗi hay gặp
- Mẹo nhớ: “7 chữ × 8 câu = 56 chữ”, có đủ “đề – thực – luận – kết” thì là thất ngôn bát cú.
- Lỗi 1: nhầm với thất ngôn tứ tuyệt (4 câu). Bài này có 8 câu nên không phải tứ tuyệt.
- Lỗi 2: viết “thơ lục bát” hoặc “thơ tự do” vì thấy bài có chất dân gian. Chất dân gian nằm ở ngôn ngữ, không phải ở thể thơ.
- Lỗi 3: quên ghi “Đường luật”, chỉ ghi “thất ngôn bát cú”. Nên ghi đầy đủ cả hai.
Bài luyện tập
Câu 1. Chỉ ra các tiếng gieo vần trong bài “Thương vợ”.
Đáp án: sông, chồng, đông, công, không (vần “ông”).
Câu 2. Hai câu nào đóng vai trò “thực” và hai câu nào là “luận”?
Đáp án: Thực là câu 3–4; luận là câu 5–6.
Câu 3. Viết một câu nhận xét về tác dụng của phép đối ở cặp câu 3–4.
Gợi ý: Phép đối giữa “lặn lội” – “eo sèo”, “quãng vắng” – “đò đông” cho thấy bà Tú vất vả trong mọi hoàn cảnh, từ nơi vắng vẻ đến chỗ chen chúc.
Câu hỏi thường gặp
Thương vợ của Tú Xương thuộc thể thơ gì?
Thương vợ thuộc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần bằng và có bố cục đề – thực – luận – kết.
Bài Thương vợ gieo vần gì?
Bài gieo vần bằng "ông", gồm các tiếng cuối câu 1, 2, 4, 6, 8: sông, chồng, đông, công, không.
Hai câu nào trong Thương vợ phải đối nhau?
Theo luật thơ Đường, hai câu thực (3–4) và hai câu luận (5–6) phải đối nhau, và bài Thương vợ đối rất chỉnh.
Thương vợ có phải thơ Nôm không?
Có. Bài được viết bằng chữ Nôm theo thể Đường luật, nên thuộc dòng thơ Nôm Đường luật của văn học trung đại Việt Nam.