Trả lời nhanh
Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh vẽ nên bức tranh làng chài ven biển: con thuyền băng băng ra khơi, cánh buồm như “mảnh hồn làng”, dân chài khoẻ khoắn rám nắng, thuyền nghỉ bến sau chuyến đi biển. Qua đó nhà thơ gửi gắm tình yêu và nỗi nhớ da diết với quê hương. Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn cho 5 câu hỏi.
Tìm hiểu nhanh về bài thơ
- Tác giả: Tế Hanh (1921 – 2009), quê ở Quảng Ngãi, là nhà thơ có nhiều bài viết về quê hương và biển.
- Thể thơ: tám chữ, gieo vần chân, nhịp thơ linh hoạt, giọng thơ tha thiết.
- Bố cục gợi ý: (1) Giới thiệu chung về làng chài; (2) Cảnh thuyền ra khơi đánh cá; (3) Cảnh thuyền về bến, dân làng đón đoàn thuyền; (4) Nỗi nhớ quê hương của tác giả khi xa quê.
- Chủ đề: vẻ đẹp tươi khoẻ của làng chài và tình yêu quê hương chân thành của nhà thơ.
Muốn đọc thêm về hoàn cảnh sáng tác và giá trị nghệ thuật, em xem bài tác giả – tác phẩm dưới đây: Bài thơ Quê hương – Tế Hanh: nội dung, tác giả, tác phẩm. Nếu cần ghi nhớ mạch thơ, có thể xem các mẫu tóm tắt bài thơ Quê hương.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc (trang 74, Tập 1)
Câu 1. Chi tiết cho biết quê hương tác giả là làng chài ven biển
Các chi tiết nhận biết:
- Làng làm nghề chài lưới, nước bao quanh, cách biển chỉ “nửa ngày sông”.
- Trai tráng trong làng bơi thuyền đi đánh cá; dân làng tấp nập đón ghe cá trở về.
- Hình ảnh đặc trưng: chiếc buồm trắng, cá bạc, làn da ngăm rám nắng, vị muối mặn của biển.
Mẹo: khi tìm chi tiết, em gom theo 3 nhóm: nghề nghiệp – con người – cảnh vật/mùi vị thì bài sẽ đủ ý mà không lan man. Xem lời giải đầy đủ hơn tại Câu 1 trang 74.
Câu 2. Biện pháp tu từ miêu tả con thuyền lúc ra khơi
- So sánh con thuyền nhẹ, khoẻ với con tuấn mã (ngựa quý): gợi tốc độ, sức mạnh; đồng thời làm nổi bật khí thế hăng hái, hào hùng của trai làng chài.
- So sánh kết hợp nhân hoá ở hình ảnh cánh buồm: “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”. Cái hồn của làng – vốn trừu tượng – hiện lên cụ thể, thiêng liêng; cánh buồm như đang “rướn thân” đón gió, thể hiện khát vọng và tình gắn bó của người dân với biển, với quê.
Cách viết ngắn gọn: nêu biện pháp → trích hình ảnh → nói tác dụng (tả vật + gợi người + bộc lộ cảm xúc). Chi tiết: Câu 2 trang 74.
Câu 3. Phân tích từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong đoạn thơ về dân chài và con thuyền nghỉ bến
Em có thể chọn phân tích một trong các điểm sau:
- “Làn da ngăm rám nắng”, “thân hình nồng thở vị xa xăm”: con người như mang cả nắng gió, vị mặn của đại dương trong mình. Tác giả không tả bằng mắt mà bằng cả cảm giác nên hình ảnh vừa chân thực vừa giàu chất thơ.
- Con thuyền “im bến mỏi trở về nằm”: nhân hoá, con thuyền cũng biết mệt như người lao động sau chuyến đi dài.
- “Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”: đây là chuyển đổi cảm giác – “nghe” (thính giác) dùng để cảm nhận sự “thấm” (xúc giác, vị giác). Câu thơ cho thấy sự tinh tế của nhà thơ và ngụ ý: vị mặn của biển, của lao động đã thấm vào con thuyền, con người, và vào cả tâm hồn làng chài.
Xem thêm: Câu 3 trang 74.
Câu 4. Vẻ đẹp con người và cuộc sống nơi làng chài
| Khía cạnh | Vẻ đẹp cảm nhận được |
|---|---|
| Con người | Khoẻ khoắn, cường tráng; yêu lao động; tâm hồn phóng khoáng, lạc quan; gắn bó với biển. |
| Cuộc sống | Bình dị, yên ả nhưng sôi động, tràn đầy sức sống; hoà hợp với thiên nhiên; no ấm nhờ chuyến cá đầy. |
Lời giải đầy đủ: Câu 4 trang 74.
Câu 5. Tình cảm của tác giả với quê hương
- Yêu thương, tự hào, trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống làng chài.
- Nỗi nhớ da diết khi xa quê: nhớ màu nước, màu cá, cánh buồm và cả “cái mùi nồng mặn” đặc trưng.
- Tình cảm ấy chân thành, mộc mạc, được thể hiện bằng những hình ảnh thân thuộc nên dễ chạm tới người đọc.
Tham khảo: Câu 5 trang 74.
Lỗi thường gặp khi soạn bài này
- Chỉ nêu tên biện pháp mà quên tác dụng. Điểm nằm ở phần “tác dụng”, không phải ở tên gọi.
- Nhầm “nhân hoá” với “so sánh”. Có từ “như” là so sánh; gán hành động, cảm giác của người cho vật (con thuyền “mỏi”, “nằm”, “nghe”) là nhân hoá.
- Chép nguyên cả đoạn thơ. Chỉ cần trích từ, cụm từ then chốt rồi phân tích.
Luyện tập nhanh
- Đề: Nêu hai biện pháp tu từ trong câu “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.
Đáp án gợi ý: so sánh (cánh buồm – mảnh hồn làng) và nhân hoá/ẩn dụ hoá khi gán cho vật cái “hồn”; làm cánh buồm trở thành biểu tượng thiêng liêng của làng chài. - Đề: Vì sao nói “Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ” là câu thơ giàu sức gợi?
Đáp án gợi ý: dùng “nghe” cho một cảm giác vốn không nghe được (chuyển đổi cảm giác), biến vị mặn thành điều có thể cảm nhận; vừa tả con thuyền nhọc nhằn, vừa gợi cuộc sống gian lao nhưng gắn bó với biển. - Đề: Viết 2–3 câu nêu cảm nhận của em về tình yêu quê hương trong bài thơ.
Đáp án gợi ý: Tế Hanh yêu quê qua những điều giản dị nhất: con thuyền, cánh buồm, mùi biển. Nỗi nhớ khi xa quê càng làm tình yêu ấy thêm sâu đậm, nhắc em biết trân trọng nơi mình sinh ra.
Các bài soạn liên quan trong sách
- Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 72 Tập 1
- Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học
- Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống
- Củng cố, mở rộng lớp 7 trang 83 Tập 1
- Soạn văn 7 – Kết nối tri thức (cả Tập 1, Tập 2)
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Đề thi cuối kì 1 Văn 7 Kết nối tri thức: 2 đề có đáp án, dàn ý phần Viết; Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 13 tập 2 (Kết nối tri thức); Bài thơ Mẹ và quả (Nguyễn Khoa Điềm): tác giả, nội dung, phân tích.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Quê hương của Tế Hanh viết theo thể thơ nào?
Bài thơ viết theo thể thơ tám chữ, gieo vần chân, giọng điệu tha thiết, phù hợp để vừa tả cảnh vừa bộc lộ nỗi nhớ quê.
Hình ảnh nào trong bài thơ được coi là biểu tượng của làng chài?
Cánh buồm trắng được ví như "mảnh hồn làng". Hình ảnh này kết hợp so sánh và nhân hoá, cho thấy cánh buồm không chỉ là vật dụng mà còn là linh hồn, niềm tự hào của dân chài.
Soạn bài Quê hương ngắn nhất cần có những ý chính nào?
Cần có 5 ý: các chi tiết nhận biết làng chài; hiệu quả của so sánh, nhân hoá khi tả thuyền ra khơi; phân tích từ ngữ đặc sắc ở đoạn thuyền nghỉ bến; vẻ đẹp con người và cuộc sống làng chài; tình cảm yêu thương, nhớ quê của tác giả.
Câu "Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ" dùng biện pháp gì?
Câu thơ dùng chuyển đổi cảm giác (nghe – thấm) kết hợp nhân hoá con thuyền, gợi sự tinh tế của nhà thơ và vị mặn của biển đã thấm vào cuộc sống làng chài.