Trả lời nhanh
Để tìm tọa độ giao điểm của hai đường thẳng d1 và d2, em giải hệ gồm hai phương trình của chúng; nghiệm (x; y) chính là toạ độ giao điểm (hệ vô nghiệm thì song song, vô số nghiệm thì trùng nhau). Góc φ giữa hai đường thẳng tính theo công thức cos φ = |n1·n2| / (|n1|·|n2|), trong đó n1, n2 là vectơ pháp tuyến của d1, d2, và 0° ≤ φ ≤ 90°.
Bước 1: xét vị trí tương đối
Với d1: a1x + b1y + c1 = 0 và d2: a2x + b2y + c2 = 0, em tính định thức D = a1b2 − a2b1.
- D ≠ 0: hai đường thẳng cắt nhau tại đúng một điểm.
- D = 0: hai vectơ pháp tuyến cùng phương, đường thẳng song song hoặc trùng nhau. Thử một điểm của d1 vào d2 để phân biệt.
Bước 2: giải hệ để lấy giao điểm
Dùng phương pháp cộng đại số hoặc thế. Nếu một đường cho dạng tham số, em thay x, y theo t vào phương trình của đường còn lại để tìm t, sau đó tính ngược toạ độ.
Bước 3: tính góc giữa hai đường thẳng
Góc giữa hai đường thẳng luôn là góc nhọn hoặc vuông, nên có giá trị tuyệt đối ở tử số. Nếu đường thẳng cho bằng vectơ chỉ phương u thì công thức giống hệt, chỉ thay n bằng u. Hai đường vuông góc khi n1·n2 = 0, song song khi không có giao điểm và góc bằng 0°.

Ví dụ 1: hai đường dạng tổng quát
Cho d1: 2x + y − 4 = 0 và d2: x − y + 1 = 0.
- Cộng hai phương trình: 3x − 3 = 0, suy ra x = 1; thay vào d2 được y = 2. Giao điểm M(1; 2).
- n1 = (2; 1), n2 = (1; −1). Tích vô hướng bằng 2 − 1 = 1; |n1| = √5, |n2| = √2.
- cos φ = 1/√10 ≈ 0,3162, suy ra φ ≈ 71,57°.
Ví dụ 2: một đường dạng tham số
Cho d1: x = 1 + 2t, y = 3 − t và d2: x + y − 5 = 0.
- Thay vào d2: (1 + 2t) + (3 − t) − 5 = t − 1 = 0, nên t = 1; giao điểm (3; 2).
- Vectơ chỉ phương của d1: u = (2; −1). Vectơ pháp tuyến của d2: n = (1; 1), nên vectơ chỉ phương của d2 là (1; −1).
- cos φ = |2·1 + (−1)(−1)| / (√5·√2) = 3/√10 ≈ 0,9487, suy ra φ ≈ 18,43°.
Ví dụ 3: hai đường song song
d1: 2x − 4y + 3 = 0 và d2: x − 2y − 1 = 0. Ở đây D = 2·(−2) − 1·(−4) = 0. Lấy điểm (0; 3/4) thuộc d1, thay vào d2: 0 − 3/2 − 1 ≠ 0. Vậy hai đường thẳng song song, không có giao điểm và góc bằng 0°.
Ví dụ 4: hai đường vuông góc
d1: 3x + 2y − 12 = 0 và d2: 2x − 3y + 5 = 0. Tích vô hướng n1·n2 = 3·2 + 2·(−3) = 0 nên φ = 90°. Giải hệ: nhân phương trình đầu với 3, phương trình sau với 2 rồi cộng, được 13x − 26 = 0, suy ra x = 2, y = 3. Giao điểm (2; 3).
Mẹo kiểm tra kết quả
- Thay toạ độ giao điểm vào cả hai phương trình, cả hai phải bằng 0.
- Nếu cos φ ra số âm, em đã quên dấu giá trị tuyệt đối.
- Dùng máy tính: bấm cos⁻¹ của giá trị tìm được để đổi sang độ, kiểm tra máy đang ở chế độ độ (DEG).
Lỗi sai thường gặp
- Nhầm vectơ chỉ phương với vectơ pháp tuyến khi đường thẳng có dạng tham số.
- Quên phân biệt song song và trùng nhau khi D = 0.
- Giải hệ sai dấu khi nhân hệ số, nên luôn thử lại nghiệm.
- Viết góc tù: góc giữa hai đường thẳng không bao giờ vượt quá 90°.
Luyện tập có đáp án
- d1: x + 2y − 5 = 0, d2: 3x − y − 1 = 0. Đáp án: giao điểm (1; 2); cos φ = 1/√50 ≈ 0,1414 nên φ ≈ 81,87°.
- d1: y = 2x + 1, d2: y = −2x + 9. Đáp án: giao điểm (2; 5); n1 = (2; −1), n2 = (2; 1) nên cos φ = 3/5 = 0,6, φ ≈ 53,13°.
- d1: x − y + 2 = 0, d2: x = 3. Đáp án: giao điểm (3; 5); cos φ = 1/√2 nên φ = 45°.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao tìm tọa độ giao điểm của hai đường thẳng?
Giải hệ gồm phương trình của hai đường thẳng. Nghiệm (x; y) của hệ chính là toạ độ giao điểm.
Công thức tính góc giữa hai đường thẳng là gì?
cos φ = |n1·n2| / (|n1|·|n2|) với n1, n2 là vectơ pháp tuyến; có thể dùng vectơ chỉ phương thay cho vectơ pháp tuyến.
Khi nào hai đường thẳng không có giao điểm?
Khi chúng song song (hệ vô nghiệm), lúc đó góc giữa chúng bằng 0°.
Góc giữa hai đường thẳng có thể là góc tù không?
Không. Góc giữa hai đường thẳng luôn thuộc đoạn từ 0° đến 90°, vì vậy công thức có dấu giá trị tuyệt đối.