Trả lời nhanh
Để viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen ỷ lại, em cần: nêu rõ thói quen và người cần thuyết phục; chỉ ra biểu hiện, nguyên nhân; phân tích tác hại bằng lí lẽ và bằng chứng gần gũi; thể hiện sự thấu hiểu thay vì phán xét; đề xuất các bước thay đổi cụ thể, vừa sức. Kết bài khích lệ, khẳng định người đó hoàn toàn có thể tự lập.
Hiểu đúng yêu cầu của kiểu bài
Bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen là kiểu bài nghị luận có đối tượng tiếp nhận cụ thể. Khác với bài nghị luận xã hội thông thường, em không chỉ chứng minh thói quen xấu là có hại mà còn phải làm cho người nghe muốn thay đổi. Vì vậy, bài viết cần cân bằng ba yếu tố:
- Lí lẽ chặt chẽ: tác hại được phân tích rõ ràng, có hệ quả trước mắt và lâu dài.
- Bằng chứng thuyết phục: ví dụ từ đời sống học đường, gia đình, trải nghiệm của chính người viết.
- Giọng điệu chân thành: tôn trọng, đồng cảm, tránh lên lớp hay chê bai.
Ỷ lại (dựa dẫm) là thói quen trông chờ người khác làm thay, quyết định thay, giải quyết khó khăn thay cho mình trong khi bản thân có khả năng tự làm.
Dàn ý bài luận thuyết phục từ bỏ thói quen ỷ lại
Mở bài
- Nêu đối tượng muốn thuyết phục (người bạn, em nhỏ, các bạn trẻ nói chung).
- Gọi tên thói quen: ỷ lại, dựa dẫm vào người khác.
- Nêu mong muốn của người viết: người ấy từ bỏ thói quen để tự tin, trưởng thành hơn.
Thân bài
- Thể hiện sự thấu hiểu: ai cũng từng muốn được giúp đỡ; dựa vào người khác đôi khi tiện và an toàn hơn.
- Chỉ ra biểu hiện: chép bài, nhờ làm hộ bài tập; việc cá nhân để bố mẹ lo; không dám tự quyết định; gặp khó là hỏi ngay mà không tự suy nghĩ.
- Phân tích nguyên nhân: được bao bọc quá mức; ngại khó, sợ sai; chưa có kĩ năng; thiếu niềm tin vào bản thân.
- Phân tích tác hại:
- Với bản thân: năng lực không phát triển, thiếu tự tin, lúng túng khi không còn người giúp.
- Với các mối quan hệ: gây phiền hà, khiến người khác mệt mỏi, dễ mất lòng tin.
- Về lâu dài: khó thích nghi với môi trường đại học, công việc, cuộc sống tự lập.
- Nêu lợi ích khi từ bỏ: trưởng thành, chủ động, được tôn trọng, tự hào về thành quả của mình.
- Đề xuất cách thay đổi: bắt đầu từ việc nhỏ; tự làm trước rồi mới hỏi; lập kế hoạch; chấp nhận sai và sửa; nhờ người thân hỗ trợ theo cách “hướng dẫn chứ không làm thay”.
- Phân biệt: từ bỏ ỷ lại không có nghĩa là từ chối mọi sự giúp đỡ; biết hợp tác, biết hỏi đúng lúc vẫn là kĩ năng cần thiết.
Kết bài
- Khẳng định lại thông điệp.
- Bày tỏ niềm tin và sự đồng hành với người được thuyết phục.
Bài mẫu 1: Thuyết phục một người bạn cùng lớp
Minh thân mến, mình viết những dòng này không phải để trách cậu mà vì mình thật sự quý cậu. Cả học kì vừa rồi, gần như bài tập nào cậu cũng nhắn mình gửi đáp án, bài thuyết trình nhóm cậu cũng để các bạn làm rồi chỉ đứng đọc. Mình nghĩ đã đến lúc cậu nên thử từ bỏ thói quen dựa dẫm này.
Mình hiểu vì sao cậu chọn cách đó. Bài khó, thời gian ít, nhờ bạn thì nhanh hơn và chắc chắn đúng hơn. Mình cũng từng như vậy với môn Hoá năm lớp 8. Nhưng chính trải nghiệm ấy cho mình thấy cái giá phải trả. Đến bài kiểm tra trên lớp, không ai có thể “gửi đáp án” cho mình, và mình ngồi nhìn đề suốt nửa tiết. Điểm số khi ấy chỉ là một phần; điều khiến mình buồn hơn là cảm giác mình chẳng hiểu gì về những bài mà vở vẫn ghi đầy đủ.
Ỷ lại vào người khác giống như đi xe đạp có người giữ yên phía sau mãi. Mình thấy mình đang đi, nhưng thực ra chưa bao giờ tự giữ được thăng bằng. Kiến thức cũng vậy: chỉ khi tự đặt bút, tự sai và tự sửa, kiến thức mới trở thành của mình. Hơn nữa, nếu cứ để người khác làm thay, cậu sẽ dần nghĩ rằng mình không làm được, và niềm tin ấy còn khó lấy lại hơn cả điểm số.
Còn một điều nữa mình muốn nói thật lòng: các bạn trong nhóm bắt đầu thấy mệt khi phải gánh phần của cậu. Mình không muốn cậu mất đi sự quý mến của mọi người chỉ vì một thói quen mà cậu hoàn toàn có thể thay đổi.
Vậy chúng ta bắt đầu thế nào? Mình đề nghị thế này: mỗi tối, cậu tự làm bài trong 30 phút trước khi hỏi bất kì ai. Chỗ nào không hiểu, cậu đánh dấu lại, sáng hôm sau hai đứa mình cùng xem. Mình sẽ không gửi đáp án nữa, nhưng mình sẵn sàng giải thích cách làm. Trong bài nhóm tới, cậu nhận một phần cụ thể, dù nhỏ thôi, và tự hoàn thành nó.
Mình tin cậu làm được, vì cậu thông minh và nhanh nhạy hơn cậu nghĩ. Chỉ cần cậu cho bản thân một cơ hội, như một người bạn, mình sẽ ở bên cạnh.
Bài mẫu 2: Thuyết phục em nhỏ trong gia đình tự lập
Gửi em trai của chị, Bin năm nay đã học lớp 6, đã cao gần bằng chị rồi. Vậy mà sáng nào mẹ cũng phải gọi em dậy đến ba lần, soạn cặp sách giúp em, nhắc em ăn sáng. Quần áo em thay ra vẫn để ngổn ngang, chờ mẹ thu dọn. Chị viết thư này để rủ em cùng thay đổi một chút, em nhé.
Chị biết em không lười. Chỉ là từ bé đến giờ mọi việc đều có mẹ lo, nên em quen như thế. Được chăm sóc là điều hạnh phúc, nhưng nếu việc gì cũng chờ người khác làm thay, em đang tự lấy đi cơ hội lớn lên của chính mình. Năm ngoái, khi mẹ đi công tác một tuần, em có nhớ không? Em quên sách Toán hai lần, đến lớp muộn một buổi, còn chiếc áo đồng phục thì nhàu nhĩ vì không biết phơi. Lúc ấy, em đã rất bối rối.
Mẹ cũng mệt hơn em nghĩ. Mẹ đi làm cả ngày, về lại nấu cơm, dọn nhà và lo cho em từng việc nhỏ. Nếu em tự làm được phần việc của mình, mẹ sẽ có thêm thời gian nghỉ ngơi. Đó chính là cách yêu thương mẹ thiết thực nhất.
Tự lập cũng mang lại cho em nhiều niềm vui. Khi tự soạn được cặp sách, em sẽ chẳng bao giờ đổ lỗi “tại mẹ quên”. Khi tự dậy đúng giờ, em có thời gian ăn sáng thong thả. Và khi tự gấp quần áo, căn phòng của em sẽ gọn gàng như phòng của một “người lớn” thực thụ.
Chị gợi ý thế này: em đặt báo thức và tự dậy; tối nào cũng soạn cặp theo thời khoá biểu dán trên bàn; mỗi tối dành mười phút dọn góc học tập. Tuần đầu chị sẽ kiểm tra cùng em, tuần sau em tự làm. Mỗi việc em làm tốt, chị sẽ đánh một dấu sao vào bảng, đủ hai mươi sao chị em mình đi ăn kem.
Chị tin Bin sẽ làm được. Một cậu bé biết tự chăm lo cho mình chính là một cậu bé đang lớn lên đúng nghĩa.
Bài mẫu 3: Gửi các bạn trẻ đang quen “sống nhờ”
Có bao giờ bạn tự hỏi: nếu ngày mai không còn ai làm thay, bạn sẽ tự làm được những gì? Câu hỏi ấy nghe có vẻ xa, nhưng thực ra rất gần với nhiều bạn trẻ hôm nay, những người đang quen dựa dẫm vào bố mẹ, thầy cô, bạn bè, thậm chí vào những lời giải có sẵn trên mạng.
Biểu hiện của thói quen ỷ lại không khó nhận ra. Gặp bài khó, việc đầu tiên là tìm lời giải chứ không phải suy nghĩ. Chọn trường, chọn ngành cũng để bố mẹ quyết, rồi trách bố mẹ khi không hợp. Những việc cá nhân như đăng kí học thêm, nộp hồ sơ, sắp xếp lịch học đều trông chờ người khác nhắc. Tôi không cho rằng các bạn ấy kém cỏi. Chỉ là chúng ta lớn lên trong một môi trường có quá nhiều sự hỗ trợ, và thói quen hình thành lúc nào không hay.
Nhưng hãy nhìn vào hệ quả. Người quen dựa dẫm thường thiếu kĩ năng giải quyết vấn đề, một kĩ năng mà mọi môi trường học tập và làm việc đều đòi hỏi. Khi bước vào đại học, không còn ai nhắc lịch thi; khi đi làm, không ai làm thay báo cáo. Lúc ấy, sự lúng túng có thể khiến bạn bỏ lỡ cơ hội. Nguy hiểm hơn, ỷ lại lâu ngày làm con người mất dần tiếng nói của chính mình: bạn quen để người khác nghĩ thay, quyết thay, đến mức không biết mình thực sự muốn gì.
Ngược lại, người tự lập không phải là người không bao giờ nhờ ai. Họ biết tự làm trước, biết hỏi đúng chỗ, đúng lúc, và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Đó là kiểu người mà ai cũng muốn làm bạn, làm đồng nghiệp.
Thay đổi có thể bắt đầu từ hôm nay, bằng những việc rất nhỏ. Hãy thử quy tắc “tự làm trước, hỏi sau”: dành ít nhất mười lăm phút suy nghĩ trước khi xem lời giải. Hãy tự lên kế hoạch cho một tuần học tập. Hãy tự giải quyết một thủ tục nhỏ như đăng kí câu lạc bộ, mua vé xe. Mỗi lần tự làm được là một lần bạn tin vào bản thân thêm một chút.
Không ai sinh ra đã tự lập. Tự lập là kết quả của hàng nghìn lần dám thử. Và lần thử đầu tiên, bạn có thể bắt đầu ngay sau khi đọc xong những dòng này.
Bí quyết để bài luận thuyết phục hơn
| Nên làm | Không nên làm |
|---|---|
| Xưng hô thân mật, phù hợp đối tượng (cậu – mình, chị – em, bạn – tôi) | Dùng giọng ra lệnh, phán xét (“cậu thật lười”, “em phải…”) |
| Dẫn trải nghiệm thật, cụ thể của bản thân | Chỉ nêu lí lẽ chung chung, sáo rỗng |
| Đề xuất giải pháp nhỏ, đo được, có thời hạn | Khuyên “hãy cố gắng lên” mà không chỉ cách |
| Thể hiện sự đồng hành, niềm tin | Đe doạ hậu quả để gây sợ hãi |
Ba kĩ thuật thuyết phục em có thể dùng: đồng cảm trước, lập luận sau (người nghe sẽ mở lòng hơn); so sánh hình ảnh (như hình ảnh tập đi xe đạp ở bài mẫu 1); cam kết hỗ trợ cụ thể (như bảng dấu sao ở bài mẫu 2).
Ôn thêm kĩ năng nghị luận: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống và Mẫu mở bài nghị luận xã hội.
Câu hỏi thường gặp
Thói quen ỷ lại là gì?
Là thói quen trông chờ, dựa dẫm vào người khác làm thay, quyết định thay hoặc giải quyết khó khăn thay cho mình trong khi bản thân có khả năng tự làm.
Bài luận thuyết phục khác bài nghị luận xã hội thông thường ở điểm nào?
Bài luận thuyết phục hướng tới một đối tượng cụ thể và mục tiêu là khiến người đó thay đổi hành động, nên cần thêm sự đồng cảm, giọng điệu chân thành và giải pháp cụ thể, không chỉ chứng minh đúng sai.
Nên dùng những bằng chứng nào khi viết bài này?
Nên dùng trải nghiệm thật của bản thân, tình huống quen thuộc ở trường, ở nhà, và những hệ quả cụ thể (bài kiểm tra, làm việc nhóm, khi bố mẹ vắng nhà) thay cho số liệu khó kiểm chứng.
Từ bỏ ỷ lại có nghĩa là không được nhờ ai giúp đỡ?
Không. Người tự lập vẫn hợp tác và hỏi khi cần, nhưng họ tự cố gắng trước, hỏi đúng lúc và chịu trách nhiệm với việc của mình.