Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống: dàn ý và bài mẫu

Trả lời nhanh

Để viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống, em làm theo 4 bước: xác định đúng vấn đề, lập dàn ý (mở bài nêu vấn đề; thân bài bàn luận bằng lí lẽ, bằng chứng, phản biện và đề xuất giải pháp; kết bài khẳng định ý kiến), viết bài, rồi đọc lại và sửa. Bài hay cần quan điểm rõ ràng, lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng thực tế, gần gũi.

Thế nào là bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống?

Đây là kiểu bài em nêu và bảo vệ ý kiến của mình về một hiện tượng, một vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống: thói quen dùng điện thoại, lối sống thờ ơ, bạo lực học đường, bảo vệ môi trường, tinh thần tự học… Kiểu bài này xuất hiện ở nhiều lớp trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT, mức độ yêu cầu tăng dần: lớp dưới tập trung trình bày ý kiến rõ ràng; lớp trên đòi hỏi phân tích nguyên nhân, hệ quả sâu hơn và phản biện ý kiến trái chiều.

Yêu cầu đối với kiểu bài

  • Nêu được vấn đề cần bàn luận một cách rõ ràng.
  • Thể hiện ý kiến (tán thành hay phản đối) của người viết.
  • Đưa ra lí lẽ thuyết phục và bằng chứng xác thực, tiêu biểu.
  • Xem xét vấn đề từ nhiều phía, phản bác ý kiến trái chiều một cách thấu đáo.
  • Đề xuất giải pháp hoặc bài học khả thi (với vấn đề cần giải quyết).
  • Bố cục ba phần mạch lạc, có từ ngữ liên kết giữa các đoạn.

Các bước viết bài

Bước 1: Chuẩn bị

Đọc kĩ đề, gạch chân từ khoá để xác định vấn đề nghị luận. Tự hỏi: vấn đề này là gì, diễn ra ở đâu, ai liên quan, tốt hay xấu, vì sao, nên làm gì? Thu thập bằng chứng từ trải nghiệm bản thân, chuyện ở trường lớp, thông tin đã được học hoặc báo chí chính thống.

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

Dùng các câu hỏi “là gì – thực trạng ra sao – vì sao – hậu quả/ý nghĩa thế nào – làm gì” để tìm ý, rồi sắp xếp theo dàn ý chung ở mục dưới.

Bước 3: Viết bài

Mỗi luận điểm nên là một đoạn văn: câu chủ đề nêu luận điểm, các câu tiếp theo giải thích bằng lí lẽ, đưa bằng chứng, câu cuối chốt lại ý. Dùng từ nối như trước hết, bên cạnh đó, tuy nhiên, vì vậy, tóm lại để bài liền mạch.

Bước 4: Kiểm tra và chỉnh sửa

Đọc lại để kiểm tra: quan điểm có nhất quán không, mỗi lí lẽ có bằng chứng đi kèm chưa, có lỗi chính tả, câu dài lủng củng không.

Dàn ý chung bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống

Phần Nội dung cần có
Mở bài Giới thiệu vấn đề; nêu khái quát ý kiến của người viết.
Thân bài 1. Giải thích vấn đề (nếu có khái niệm).
2. Thực trạng, biểu hiện (kèm bằng chứng).
3. Nguyên nhân (khách quan, chủ quan).
4. Tác động: lợi ích hoặc tác hại.
5. Ý kiến trái chiều và phản biện.
6. Giải pháp, bài học.
Kết bài Khẳng định lại ý kiến; liên hệ bản thân, lời kêu gọi.

Không phải đề nào cũng cần đủ 6 ý ở thân bài. Với vấn đề tích cực (ví dụ tinh thần tự học), em chú trọng ý nghĩa và cách rèn luyện; với vấn đề tiêu cực (ví dụ nghiện mạng xã hội), em chú trọng nguyên nhân, tác hại và giải pháp.

Cách viết mở bài và kết bài ấn tượng

Mở bài trực tiếp: nêu ngay vấn đề. Ví dụ: “Trong nhịp sống hiện đại, nhiều bạn trẻ quen cầm điện thoại ngay khi vừa thức dậy. Theo em, thói quen phụ thuộc vào điện thoại đang là vấn đề đáng lo ngại cần được nhìn nhận nghiêm túc.”

Mở bài gián tiếp: dẫn dắt bằng một câu chuyện nhỏ, một câu tục ngữ, một tình huống thực tế rồi mới nêu vấn đề.

Kết bài: tránh lặp lại nguyên văn mở bài. Hãy khẳng định ý kiến bằng cách diễn đạt mới và gắn với hành động cụ thể của bản thân.

Bài văn mẫu 1: Nghị luận về thói quen phụ thuộc vào điện thoại thông minh

Chiếc điện thoại thông minh đã trở thành “người bạn” gần như không rời của nhiều học sinh. Nó giúp ta học tập, liên lạc, giải trí rất tiện lợi. Thế nhưng khi chiếc máy nhỏ ấy chiếm phần lớn thời gian và sự chú ý, thói quen phụ thuộc vào điện thoại đã trở thành một vấn đề mà mỗi chúng ta cần suy ngẫm.

Phụ thuộc vào điện thoại là tình trạng không thể rời máy, luôn muốn kiểm tra tin nhắn, lướt mạng xã hội kể cả khi không cần thiết. Biểu hiện của nó rất dễ thấy: vừa ăn cơm vừa xem video, giờ ra chơi mỗi bạn cúi vào một màn hình, buổi tối định học bài nhưng “lướt thêm một chút” thành cả tiếng đồng hồ.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Các ứng dụng được thiết kế để giữ chân người dùng bằng thông báo liên tục và nội dung ngắn hấp dẫn. Bên cạnh đó, nhiều bạn chưa có kĩ năng quản lí thời gian, hoặc dùng điện thoại để trốn tránh áp lực, nỗi buồn. Một phần nữa là thiếu các hoạt động ngoài trời, thể thao, sinh hoạt tập thể hấp dẫn thay thế.

Hậu quả của sự phụ thuộc không hề nhỏ. Sức khoẻ bị ảnh hưởng: mắt mỏi, ngủ muộn, ít vận động. Việc học sa sút vì khó tập trung. Đáng buồn hơn, các mối quan hệ thật trở nên nhạt nhoà khi cả gia đình ngồi cạnh nhau mà mỗi người một màn hình.

Có ý kiến cho rằng điện thoại là công cụ học tập không thể thiếu, nên dùng nhiều cũng chẳng sao. Điều đó chỉ đúng một nửa. Vấn đề không nằm ở chiếc điện thoại mà ở cách ta sử dụng nó: dùng có mục đích thì điện thoại là công cụ, dùng vô thức thì ta trở thành “công cụ” của nó.

Để thoát khỏi sự phụ thuộc, mỗi bạn có thể đặt giới hạn thời gian sử dụng, tắt thông báo không cần thiết, không mang điện thoại lên giường ngủ. Gia đình và nhà trường nên tạo thêm nhiều hoạt động thể thao, câu lạc bộ để học sinh có lựa chọn lành mạnh hơn.

Chiếc điện thoại chỉ thật sự “thông minh” khi người dùng nó tỉnh táo. Bản thân em đã bắt đầu thử để điện thoại ngoài phòng khi học bài, và nhận ra thời gian của mình bỗng “dài” ra đáng kể.

Bài văn mẫu 2: Nghị luận về tinh thần tự học của học sinh

Thầy cô có thể dẫn đường, nhưng tự mình bước đi mới là điều quyết định. Vì thế, theo em, tinh thần tự học là phẩm chất quan trọng bậc nhất của mỗi học sinh hôm nay.

Tự học là quá trình chủ động tìm hiểu, tiếp thu và rèn luyện kiến thức, kĩ năng mà không cần ai nhắc nhở. Người tự học biết đặt mục tiêu, biết tìm tài liệu, biết tự kiểm tra xem mình đã hiểu chưa.

Tự học mang lại nhiều lợi ích. Kiến thức tự tìm ra thường nhớ lâu và hiểu sâu hơn kiến thức được “đút sẵn”. Tự học rèn tính kiên trì, khả năng giải quyết vấn đề, những kĩ năng cần thiết suốt đời. Trong thời đại thông tin thay đổi từng ngày, ai biết tự học thì người đó không bị tụt lại phía sau.

Tuy vậy, vẫn còn nhiều bạn học thụ động, chỉ học khi sắp kiểm tra, chép lời giải có sẵn mà không suy nghĩ. Cách học ấy có thể giúp qua một bài kiểm tra, nhưng không giúp ta thật sự giỏi lên.

Để rèn tinh thần tự học, em nghĩ nên bắt đầu từ việc nhỏ: lập thời gian biểu, tự làm bài trước khi xem đáp án, ghi lại lỗi sai để ôn lại, mạnh dạn hỏi thầy cô khi chưa hiểu.

Tự học không phải là học một mình, mà là học bằng chính sự chủ động của mình. Đó là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức mà không ai có thể cầm thay ta.

Bài văn mẫu 3 (dạng dàn ý chi tiết): Nghị luận về việc bảo vệ môi trường ở trường học

  1. Mở bài: môi trường trường học xanh, sạch giúp học tập hiệu quả; nhưng rác thải nhựa, lãng phí điện nước vẫn còn. Ý kiến: mỗi học sinh cần hành động để bảo vệ môi trường trường học.
  2. Thân bài:
    • Thực trạng: vỏ chai nhựa, túi ni lông sau giờ ra chơi; quạt, đèn bật khi lớp vắng; vẽ bậy lên bàn ghế.
    • Nguyên nhân: thói quen tiện đâu vứt đó, chưa ý thức tác hại, thiếu thùng phân loại rác.
    • Tác hại: mất mĩ quan, mất vệ sinh, lãng phí, hình thành thói quen xấu.
    • Phản biện: “đã có lao công dọn dẹp” – đó là cách nghĩ ỷ lại; trường là ngôi nhà chung.
    • Giải pháp: dùng bình nước cá nhân, phân loại rác, tắt điện khi ra về, phong trào “lớp học xanh”.
  3. Kết bài: khẳng định trách nhiệm; cam kết hành động của bản thân.

Lỗi thường gặp và cách sửa

Lỗi Cách sửa
Chỉ kể, tả hiện tượng mà không nêu ý kiến Viết rõ câu thể hiện quan điểm ở mở bài và đầu mỗi đoạn
Bằng chứng chung chung (“nhiều người”, “ai cũng biết”) Dùng ví dụ cụ thể từ trải nghiệm, trường lớp, thông tin chính thống
Bịa số liệu Không dùng số liệu khi không chắc nguồn; thay bằng ví dụ thực tế
Thiếu phần phản biện Nêu một ý kiến khác rồi chỉ ra điểm chưa hợp lí của nó
Giải pháp viển vông Đề xuất việc cụ thể, vừa sức, có thể làm ngay

Gợi ý đề bài để luyện tập

  • Suy nghĩ của em về hiện tượng học sinh lười đọc sách.
  • Nghị luận về lòng biết ơn trong cuộc sống hôm nay.
  • Ý kiến của em về việc học sinh dùng mạng xã hội.
  • Nghị luận về bạo lực học đường và cách phòng tránh.
  • Suy nghĩ về lối sống “sống ảo” của một bộ phận giới trẻ.

Với mỗi đề, em hãy thử lập dàn ý theo bảng ở trên trong 10 phút trước khi viết; đây là cách luyện hiệu quả nhất để bài viết không lan man.

Câu hỏi thường gặp

Bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống gồm mấy phần?

Gồm 3 phần: mở bài nêu vấn đề và ý kiến; thân bài giải thích, phân tích thực trạng, nguyên nhân, tác động, phản biện và đề xuất giải pháp; kết bài khẳng định lại ý kiến và liên hệ bản thân.

Lí lẽ và bằng chứng khác nhau thế nào?

Lí lẽ là những lập luận, lời giải thích để làm rõ ý kiến; bằng chứng là sự việc, ví dụ, số liệu cụ thể, xác thực dùng để chứng minh cho lí lẽ.

Có bắt buộc phải có phần phản biện ý kiến trái chiều không?

Ở các lớp trên, phản biện là yêu cầu quan trọng giúp bài thuyết phục hơn. Em nên nêu một ý kiến khác và chỉ ra điểm chưa hợp lí của nó một cách tôn trọng.

Làm sao để bài nghị luận không bị lan man?

Lập dàn ý trước khi viết, mỗi đoạn chỉ triển khai một luận điểm với câu chủ đề rõ ràng, và luôn quay về câu hỏi: ý này có giúp làm rõ quan điểm của mình không.