Trả lời nhanh
Đề văn cuối kì 1 lớp 11 thường dài 90 phút, gồm Đọc hiểu (4 điểm) và Làm văn (6 điểm, thường tách thành nghị luận xã hội khoảng 2 điểm và nghị luận văn học khoảng 4 điểm). Dưới đây là 3 đề mẫu có đáp án, dàn ý và thang điểm để em luyện tập, tự chấm và rút kinh nghiệm trước khi thi.
Cấu trúc đề Ngữ văn 11 học kì 1
Dù mỗi trường ra đề một khác, đa số đề cuối kì 1 đều chia hai phần. Em nên nắm rõ để phân bổ thời gian hợp lí.
| Phần | Nội dung | Điểm | Thời gian gợi ý |
|---|---|---|---|
| I. Đọc hiểu | Ngữ liệu trong hoặc ngoài sách, 4 câu: nhận biết, thông hiểu, vận dụng | 4,0 | 20–25 phút |
| II.1. Nghị luận xã hội | Đoạn văn hoặc bài văn ngắn (khoảng 200 chữ) | 2,0 | 15–20 phút |
| II.2. Nghị luận văn học | Phân tích nhân vật, đoạn trích hoặc đoạn thơ | 4,0 | 40–45 phút |
| Dành để soát lỗi | – | 5 phút | |
Lưu ý: ba đề dưới đây xoay quanh các tác phẩm thường gặp ở kì 1 lớp 11 theo chương trình trước đây (Chí Phèo, Vội vàng, Chữ người tử tù). Nếu em học sách mới, hãy dùng chúng để rèn kĩ năng làm bài, còn nội dung cụ thể cần bám theo các văn bản thầy cô đã dạy ở lớp.
Đề 1
Phần I. Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc hai đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi.”
“Tao muốn làm người lương thiện! Ai cho tao lương thiện?”
(Chí Phèo – Nam Cao)
- Xác định ngôi kể và phương thức biểu đạt chính của hai đoạn trích. (1 điểm)
- Tiếng chửi của Chí Phèo ở đoạn đầu cho thấy điều gì về tình trạng của nhân vật? (1 điểm)
- Em hiểu thế nào về câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” (1 điểm)
- Từ số phận Chí Phèo, hãy viết 3–4 câu về trách nhiệm của xã hội với những người lầm lỡ. (1 điểm)
Phần II. Làm văn (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn khoảng 150 chữ: “Vì sao con người cần được cho cơ hội làm lại?”
Câu 2 (4 điểm). Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao.
Đáp án và hướng dẫn chấm Đề 1
- Câu 1: Ngôi kể thứ ba (người kể giấu mình, gọi nhân vật là “hắn”). Phương thức chính: tự sự, đan xen biểu cảm ở lời độc thoại của nhân vật.
- Câu 2: Chửi là thói quen lặp đi lặp lại (“bao giờ cũng thế”), chửi trong cơn say, chửi cả trời, cả làng. Điều đó cho thấy Chí Phèo sống trong trạng thái tha hoá, mất ý thức làm người, bị cô lập khỏi cộng đồng; tiếng chửi vừa là sự phẫn uất vừa là tiếng kêu không ai đáp lại.
- Câu 3: Đây là câu hỏi tu từ, bật ra khi Chí nhận ra mình muốn quay về đời lương thiện nhưng không còn đường. “Ai cho” hàm ý: lương thiện không chỉ do mình muốn mà còn do xã hội có chấp nhận hay không. Câu hỏi là lời tố cáo xã hội định kiến, tàn nhẫn.
- Câu 4: Chấp nhận mọi hướng diễn đạt hợp lí: xã hội cần bao dung, tạo điều kiện, không kì thị; sự giúp đỡ kịp thời có thể cứu một đời người. Cần có ít nhất 2 ý rõ ràng, không lan man.
Dàn ý Câu 2 (4 điểm):
- Mở bài (0,5): giới thiệu Nam Cao, Chí Phèo và bi kịch cần phân tích.
- Thân bài (3,0): (1) Chí Phèo từng là người nông dân hiền lành, lương thiện, bị đẩy vào tù, ra tù thành “con quỷ dữ”; (2) Tình yêu và bát cháo hành của thị Nở đánh thức phần người, Chí khao khát hoà nhập; (3) Bà cô thị Nở cự tuyệt, Chí bị đẩy vào đường cùng, giết Bá Kiến rồi tự sát; (4) Ý nghĩa: tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến tước đoạt cả nhân hình lẫn nhân tính của người nông dân, đồng thời thể hiện niềm tin của Nam Cao vào bản chất tốt đẹp con người.
- Kết bài (0,5): khẳng định giá trị hiện thực, nhân đạo và nghệ thuật.
Điểm cộng khi bài viết chỉ ra được chi tiết “cái lò gạch cũ” gợi vòng luẩn quẩn của bi kịch. Điểm trừ khi chỉ kể lại cốt truyện mà không phân tích.
Đề 2
Phần I. Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc hai câu thơ và trả lời câu hỏi:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất”
(Vội vàng – Xuân Diệu)
- Hai câu thơ thể hiện khát vọng gì của nhân vật trữ tình? (1 điểm)
- Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng. (1 điểm)
- Vì sao ước muốn “tắt nắng” vô lí về logic nhưng lại hợp lí về cảm xúc? (1 điểm)
- Nêu thông điệp em rút ra từ tâm thế sống của tác giả. (1 điểm)
Phần II. Làm văn (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn khoảng 200 chữ về ý nghĩa của việc biết trân trọng từng khoảnh khắc tuổi trẻ.
Câu 2 (4 điểm). Phân tích quan niệm sống “vội vàng” của Xuân Diệu qua bài thơ Vội vàng.
Đáp án và hướng dẫn chấm Đề 2
- Câu 1: Khát vọng níu giữ vẻ đẹp, giữ cho sắc màu cuộc sống không phai tàn, thể hiện tình yêu tha thiết với sự sống trần thế.
- Câu 2: Điệp cấu trúc “tôi muốn…” ở cả bài (trong đoạn trích là câu mở đầu) kết hợp ước muốn phi thực tế mang tính ngoa dụ. Tác dụng: nhấn mạnh cái tôi mãnh liệt, ngông, đầy khát khao chiếm lĩnh cuộc đời. Với những em chỉ nêu được “ước muốn phi thường” vẫn cho điểm một phần.
- Câu 3: Thời gian trôi không thể ngăn; lí trí biết là không thể, nhưng cảm xúc sợ mất cái đẹp nên mới ước như vậy. Nghịch lí này làm nên chất lãng mạn của thơ.
- Câu 4: Cần sống trọn vẹn, chủ động, biết quý thời gian và tuổi trẻ. Lưu ý không hiểu “vội vàng” thành sống hối hả, thiếu suy nghĩ.
Dàn ý Câu 2 (4 điểm):
- Mở bài (0,5): Xuân Diệu – nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, bài thơ và chủ đề quan niệm sống.
- Thân bài (3,0): (1) Cơ sở của sự vội vàng: tình yêu cuộc sống, bức tranh thiên nhiên và con người đầy sức sống; (2) Nỗi băn khoăn về thời gian một đi không trở lại, cảm giác mùa xuân đang qua, tuổi trẻ sẽ hết; (3) Lời giục giã sống mãnh liệt, ôm trọn xuân hồng, hưởng thụ hương sắc; (4) Nghệ thuật: câu thơ tràn đầy cảm xúc, hình ảnh mới mẻ, nhịp điệu dồn dập, điệp từ, động từ mạnh.
- Kết bài (0,5): quan niệm nhân văn, tích cực, vẫn còn ý nghĩa với người trẻ hôm nay.
Mẹo: đừng dừng ở việc kể ý; mỗi luận điểm cần một dẫn chứng thơ ngắn, rồi phân tích từ ngữ hoặc hình ảnh đó. Vì tác phẩm còn bảo hộ, em chỉ cần trích những dòng thật cần thiết.
Đề 3
Phần I. Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc văn bản sau (ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, do người biên soạn tự viết):
Cuối lớp học có một chiếc hộp nhỏ không người trông, bên cạnh là mấy chiếc bút kèm tờ giấy: “Giá 5 nghìn, tự bỏ tiền vào hộp”. Suốt học kì, bút vơi dần, tiền trong hộp luôn đúng số. Cuối năm, thầy nói: “Chiếc hộp ấy không kiểm tra số bút, nó kiểm tra chúng ta. Người trung thực không cần ai canh giữ, vì người canh giữ đầu tiên là lương tâm của chính mình.”
- Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (1 điểm)
- Theo lời thầy, chiếc hộp “kiểm tra” điều gì? (1 điểm)
- Giải thích ý nghĩa câu “người canh giữ đầu tiên là lương tâm của chính mình”. (1 điểm)
- Viết 3–4 câu về bài học em rút ra. (1 điểm)
Phần II. Làm văn (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về giá trị của lòng trung thực.
Câu 2 (4 điểm). Phân tích cảnh cho chữ trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân để làm rõ vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao.
Đáp án và hướng dẫn chấm Đề 3
- Câu 1: Tự sự (kể một câu chuyện) kết hợp nghị luận ở lời thầy nói.
- Câu 2: Kiểm tra sự trung thực, tự giác của học sinh khi không bị giám sát, chứ không phải kiểm tra bút hay tiền.
- Câu 3: Sự trung thực đến từ ý thức bên trong, từ lương tâm; người có lương tâm tự biết điều đúng sai và tự kiềm chế mình, không cần sự giám sát bên ngoài.
- Câu 4: Hướng trả lời: rèn tính trung thực, sống ngay thẳng cả khi không ai nhìn thấy; chấp nhận mọi diễn đạt hợp lí, có ý trọn vẹn.
Dàn ý Câu 2 (4 điểm):
- Mở bài (0,5): giới thiệu Nguyễn Tuân, truyện và cảnh cho chữ – “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.
- Thân bài (3,0): (1) Bối cảnh trái ngược: nhà ngục tối tăm, bẩn thỉu, mà lại nơi tạo ra cái đẹp; (2) Vị thế đảo ngược: tử tù ung dung cho chữ, quản ngục và thầy thơ lại khúm núm vái lạy; (3) Huấn Cao: khí phách, tài hoa, “thiên lương”, khuyên quản ngục thay chỗ ở để giữ thiên lương; (4) Nghệ thuật: tạo tình huống độc đáo, ngôn ngữ cổ kính, trang trọng, đối lập ánh sáng và bóng tối.
- Kết bài (0,5): cái đẹp và cái thiện chiến thắng cái xấu, cái ác ngay trong hoàn cảnh nghiệt ngã.
Bảng tiêu chí tự chấm cho phần làm văn
| Tiêu chí | Cách đạt điểm cao |
|---|---|
| Hình thức | Có mở – thân – kết, mỗi ý một đoạn, ít lỗi chính tả |
| Nội dung | Đúng yêu cầu đề, đủ luận điểm, có dẫn chứng chọn lọc |
| Phân tích | Nhìn ra từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật và nêu hiệu quả |
| Sáng tạo | Có cảm nhận riêng, liên hệ hợp lí, không sáo rỗng |
Lỗi sai thường gặp khi làm đề Ngữ văn học kì 1
- Trả lời đọc hiểu quá dài hoặc quá cụt: mỗi câu nên đủ ý chính, 1–3 câu.
- Nhầm “biện pháp tu từ” với “thao tác lập luận” hoặc “phương thức biểu đạt”.
- Nghị luận xã hội nêu khái niệm dài mà thiếu bàn luận, dẫn chứng thực tế.
- Phân tích tác phẩm theo kiểu kể lại cốt truyện.
- Không phân bổ thời gian, viết câu nghị luận văn học vội vàng ở cuối giờ.
Bài luyện tập thêm
- Tự viết đoạn văn 150 chữ: “Tha thứ có phải là yếu đuối không?” (gợi ý: nêu quan điểm, lập luận hai chiều, liên hệ thực tế).
- Lập dàn ý 8–10 dòng cho đề: “Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật thị Nở trong Chí Phèo”. Gợi ý: ngoại hình xấu, cách nói chuyện thật thà, vai trò đánh thức Chí.
- Với đoạn trích ở Đề 2, hãy tự đặt thêm một câu đọc hiểu về nhịp điệu và giọng điệu, rồi viết đáp án 2–3 câu.
Xem thêm các bộ đề khác
- Bộ đề thi học kì 1 Ngữ văn lớp 11 có đáp án
- Bộ 15 đề Ngữ văn 11 học kì 1 tải nhiều nhất
- Bộ 20 đề học kì 1 Ngữ văn 11 có ma trận
- Bộ 10 đề học kì 1 Ngữ văn 11 có ma trận
- Bộ 10 đề học kì 1 Ngữ văn 11 Hà Nội
- Bộ 10 đề học kì 1 Ngữ văn 11 Đà Nẵng
- Bộ 10 đề học kì 1 Ngữ văn 11 Hồ Chí Minh
- Bộ 10 đề cuối học kì 2 Ngữ văn lớp 11
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Ngữ văn 11 Cánh diều; Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng): tác giả, tác phẩm – Kết nối tri thức; Phân tích Đây mùa thu tới: độc đáo nội dung, hình thức (4 bài mẫu).
Câu hỏi thường gặp
Đề văn cuối kì 1 lớp 11 thường có bao nhiêu điểm cho phần đọc hiểu và làm văn?
Phổ biến nhất là Đọc hiểu 4 điểm và Làm văn 6 điểm, trong đó phần làm văn thường chia thành nghị luận xã hội khoảng 2 điểm và nghị luận văn học khoảng 4 điểm. Một số trường chia 4/5/1 hoặc 3/7, nên em cần xem cấu trúc đề của trường mình.
Thời gian làm bài văn cuối kì 1 lớp 11 là bao lâu và nên chia thế nào?
Thường là 90 phút. Em có thể dành 20–25 phút cho đọc hiểu, 15–20 phút cho nghị luận xã hội, 40–45 phút cho nghị luận văn học và 5 phút soát lại bài.
Ôn đề văn cuối kì 1 lớp 11 nên bắt đầu từ đâu?
Hãy bắt đầu từ các tác phẩm đã học ở kì 1, lập dàn ý cho từng tác phẩm, rồi luyện đề có giới hạn thời gian. Sau mỗi đề, đối chiếu đáp án và ghi lại lỗi sai để sửa ở lần luyện sau.
Các đề mẫu này có dùng để ôn thi chính thức được không?
Có, em dùng để rèn kĩ năng đọc hiểu và làm văn. Tuy nhiên đề thi thật do trường ra, bám theo văn bản thầy cô đã dạy, nên em cần đối chiếu với nội dung ôn tập trên lớp.