Trả lời nhanh
Thực hành tiếng việt lớp 10 trang 105. Ở Thực hành tiếng Việt, Ngữ văn 10 Cánh diều, trang 105–106, đoạn Hê-ra-clet đi tìm táo vàng chủ yếu là trích dẫn gián tiếp kèm chú thích chân trang. Đoạn Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội của Trần Quốc Vượng có trích dẫn trực tiếp trong ngoặc kép, chú thích chính văn trong ngoặc đơn và chú thích chân trang. Văn bản lễ hội Đền Hùng dùng ảnh, sơ đồ, màu, biển báo để người đọc tìm thông tin nhanh. Câu 4 yêu cầu một bài có số liệu hoặc sơ đồ; bài mẫu dưới đây chọn đề lễ hội.
Câu 1. Nhận kiểu trích dẫn và chú thích
Câu 1 trang 105 hỏi: những trích dẫn, chú thích trong đoạn Hê-ra-clet đi tìm táo vàng (thần thoại Hi Lạp, bài 1) và đoạn Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: Một hằng số văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng (bài 4) thuộc kiểu nào? Gợi ý tách riêng từng đoạn có ở trang câu 1.

Em phân loại bằng dấu hiệu nhìn thấy, không bằng cảm giác “đoạn này có vẻ trích”.
Với đoạn Hê-ra-clet, người viết kể lại một chặng của thần thoại: anh hùng đi tìm quả táo vàng. Lời kể là lời của người soạn bài, không phải một câu nguyên văn bỏ vào ngoặc kép. Đó là trích dẫn gián tiếp. Ý và tình tiết lấy từ nguồn thần thoại, nhưng câu chữ đã được thuật lại. Phía dưới trang có chú thích chân trang ghi xuất xứ, để người đọc biết chuyện không phải do người viết bịa. Hai việc này đi cặp: gián tiếp ở thân bài, nguồn ở chân trang.
Với đoạn của Trần Quốc Vượng, em thấy cả ba kiểu. Những cụm đặt trong ngoặc kép, như cách gọi “đế một phương” hay tên “thành Tô Lịch”, là trích dẫn trực tiếp: giữ cách nói của sử liệu hoặc của chính nhà nghiên cứu khi dẫn lại một tên cũ. Những phần trong ngoặc đơn giữa câu, ví dụ giải thích ngôi chùa xưa nay là chùa nào, hoặc đối chiếu cách xưng “con Phật” với cách xưng “con Trời”, là chú thích chính văn. Người đọc không phải lia mắt xuống cuối trang vẫn hiểu địa danh và sự khác nhau về danh xưng. Ngoài ra bài vẫn có chú thích chân trang cho nguồn trích dài hơn.
Một câu trả lời gọn em có thể chép vào vở: Hê-ra-clet — trích dẫn gián tiếp và chú thích chân trang; Trần Quốc Vượng — trích dẫn trực tiếp, chú thích chính văn, chú thích chân trang. Đừng gộp hai đoạn thành một kiểu. Đề hỏi “thuộc kiểu nào” chính là để em thấy cùng một bài thực hành có thể gặp nhiều kiểu trong hai văn bản khác nhau.
Câu 2. Tác dụng của từng kiểu
Câu 2 trang 106 đưa hai đoạn và bảo phân tích tác dụng, không chỉ gọi tên. Lời giải tách ý có ở trang câu 2. Em không cần chép lại cả đoạn in trong sách; hãy chỉ vào dấu ngoặc và nói dấu ấy làm được việc gì.
Đoạn a nói về Nam Việt Đế Lý Bị và vùng trung tâm Hà Nội buổi đầu độc lập. Trích dẫn trực tiếp các tên và cụm sử liệu khiến câu nhận định có chỗ dựa: người viết không tự đặt tên thành, không tự bịa cách xưng hô của vua. Người đọc có thể đối chiếu. Chú thích chính văn trong ngoặc đơn làm một việc khác: dịch hệ thống tên. Tên chùa cũ được nối với tên chùa nay, “Phật tử” được đặt cạnh “Thiên tử” để thấy mô hình vua Phật giáo không trùng mô hình vua Trung Hoa. Nếu bỏ ngoặc đơn, câu vẫn có thông tin lịch sử nhưng người mới học dễ lạc giữa các tên. Nếu bỏ ngoặc kép, câu vẫn xuôi nhưng mất ranh giới giữa lời người viết và lời được dẫn. Tác dụng chung là vừa xác thực vừa giải thích tại chỗ, đoạn văn không phải ngắt để mở chú giải riêng.
Đoạn b là một nhận xét phê bình về hình ảnh trong thơ Tố Hữu, xoay quanh các chữ “hình” và “bóng”. Em không cần thuộc các câu thơ. Em cần thấy chức năng của dấu. Các câu thơ đặt trong ngoặc kép là bằng chứng: nhà phê bình vừa nêu luận điểm vừa để tác phẩm tự xuất hiện. Phần ngoặc đơn ghi tên tập và số trang là chú thích chính văn kiểu thư mục rút gọn. Ai muốn kiểm tra thì giở đúng trang, không phải tin vào trí nhớ người viết. Tác dụng là làm luận điểm cụ thể và kiểm được. Một bài nghị luận không có chỗ trích sẽ thành lời khen; một chỗ trích không có số trang thì người đọc khó tìm lại.
Câu chốt cho cả hai đoạn: trích dẫn tạo độ xác thực và làm sinh động, chú thích giúp hiểu tên riêng hoặc lần ra nguồn mà không làm đứt mạch câu. Đó cũng là hai lí do sách bắt em phân biệt chúng trước khi tự viết bài có dẫn chứng.
Câu 3. Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản lễ hội
Câu 3 trang 106 yêu cầu chỉ ra phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và tác dụng của chúng trong văn bản đọc hiểu về những điều cần chú ý khi tham gia lễ hội Đền Hùng năm 2019. Gợi ý đầy đủ hơn ở trang câu 3.
Phi ngôn ngữ là những yếu tố nghĩa không nằm trong câu chữ. Trong một bản tin, một tờ hướng dẫn lễ hội, em thường gặp: ảnh người dự lễ và không gian đền, sơ đồ khu vực, mũi tên và biển báo, màu nền hoặc màu khung để tách mục “nên làm” với mục “không được làm”, kí hiệu nhà vệ sinh, bãi giữ xe, trạm y tế, cùng cách chia cột và cỡ chữ. Bản in còn dùng khoảng trắng: mục nào quan trọng thì tách khối, không viết một đoạn đặc kín trang.
Tác dụng thứ nhất là tốc độ. Người đi lễ không đọc một bài nghị luận giữa dòng người. Ảnh và biển giúp mắt dừng đúng chỗ. Tác dụng thứ hai là quan hệ không gian. Sơ đồ cho biết cổng nào, đường nào, khu hành lễ nằm đâu so với bãi xe; chữ viết tả “bên trái, đi thêm một đoạn” dễ lệch, hình thì chỉ một lần. Tác dụng thứ ba là cảnh báo. Màu đỏ, dấu cấm, khung in đậm thay cho một câu ra lệnh dài. Văn bản vì thế vừa thông báo vừa hướng dẫn hành vi.
Khi trả lời, em liệt kê đúng những yếu tố có trong bài đọc của lớp, rồi gắn mỗi yếu tố với một tác dụng, tránh câu “làm bài sinh động” không chỉ ra sinh động bằng cách nào. Nếu bài đọc có cả ảnh lẫn sơ đồ, hãy nói ảnh tạo ấn tượng không gian, sơ đồ tạo đường đi. Hai thứ không trùng chức năng.
Câu 4. Bài viết có số liệu, hình hoặc sơ đồ
Câu 4 để em tự viết một văn bản có số liệu, hình ảnh hoặc sơ đồ về một trong bốn đề: các chủ đề nghị luận đã học ở tập một, hệ thống văn bản đọc hiểu, hệ thống kiến thức tiếng Việt, hoặc điều cần chú ý khi tham gia lễ hội ở Việt Nam. Hướng làm đề có ở trang câu 4. Bài dưới đây chọn đề lễ hội, vì đề này nối thẳng với câu 3. Em có thể đổi đề; cái bắt buộc là có ít nhất một con số và một bảng hoặc sơ đồ do em lập, không dán một đoạn văn xuôi.
Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hằng năm tại khu di tích Đền Hùng, Phú Thọ. Đó là một lễ hội lịch sử lớn, nhưng cách dự thì giống nhiều lễ hội khác trong nước: đông người, không gian thiêng, có nội quy. Ngành văn hóa nhiều năm qua vẫn nhắc rằng lễ hội ở Việt Nam rất nhiều và phần lớn là lễ hội dân gian, bên cạnh lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo và một số lễ hội mới du nhập. Con số cụ thể thay đổi theo từng đợt kiểm kê, nên trong bài của em chỉ cần một số em kiểm được, ví dụ ngày 10 tháng 3, hoặc số khu em thấy trên sơ đồ của một lễ hội cụ thể. Đừng bịa một thống kê cho đủ “có số”.
Đông không có nghĩa là ai cũng biết đi. Bảng sau là bốn việc nên quyết trước khi xuất phát. Em có thể vẽ lại thành sơ đồ bốn ô trong vở.
| Việc | Số liệu hoặc dấu hiệu | Vì sao |
|---|---|---|
| Chọn ngày, giờ | 10 tháng 3 âm lịch; tránh giờ cao điểm buổi sáng | Giảm chen lấn ở cổng và đường hành lễ |
| Trang phục | Một lớp áo gọn, giày bệt | Đường đền có bậc; trang phục quá cầu kì dễ vướng |
| Đi theo sơ đồ | Ít nhất 3 điểm: bãi xe, cổng, khu lễ | Biết mình đang ở đâu so với dòng người |
| Rác và hương | Một túi nhỏ cho rác cá nhân | Giữ vệ sinh; thắp hương đúng nơi quy định để tránh cháy |
Nếu cả lớp 40 bạn đi cùng, chỉ riêng chỗ đứng sát nhau, mỗi người khoảng một mét vuông, nhóm đã cần chừng 40 m². Con số này không phải diện tích đền; nó chỉ để em hình dung vì sao không nên dừng giữa lối đi để chụp ảnh. Sơ đồ trong tờ hướng dẫn quan trọng hơn trí nhớ: nhìn mũi tên, đi đúng chiều, không cắt ngang khu đang làm lễ.
Ba điều không nên viết thành khẩu hiệu. Một, tìm hiểu lễ ấy tưởng nhớ ai hoặc gắn với việc gì, để em không vào đền như vào hội chợ. Hai, nghe người điều hành và biển cấm; phi ngôn ngữ trên biển có hiệu lực như một câu trong nội quy. Ba, về nhà còn nhớ một chi tiết lịch sử, không chỉ nhớ cảnh đông. Với Đền Hùng, chi tiết ấy là tục tưởng nhớ các vua Hùng, tổ của cộng đồng người Việt. Bài viết đạt yêu cầu của câu 4 khi có đoạn giới thiệu, có bảng hoặc số, có vài câu khuyên gắn với số ấy, và có câu kết không lặp nguyên mở bài.
Nếu em chọn đề hệ thống kiến thức tiếng Việt thay vì lễ hội, hãy lập bảng ba cột: bài học, kiến thức (trích dẫn, chú thích, phi ngôn ngữ), một ví dụ một dòng. Cũng là số liệu và sơ đồ, cũng đúng đề. Các bài lân cận trong sách giúp em có ngữ liệu: lễ hội của người Chăm ở Ninh Thuận, bản nội quy nơi công cộng, thuyết trình về một địa chỉ văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
Trích dẫn trực tiếp khác trích dẫn gián tiếp ở điểm nào?
Trích dẫn trực tiếp giữ nguyên lời và đặt trong ngoặc kép. Trích dẫn gián tiếp thuật lại ý bằng lời người viết, không có ngoặc kép.
Đoạn Hê-ra-clet đi tìm táo vàng thuộc kiểu trích dẫn nào?
Chủ yếu là trích dẫn gián tiếp: người viết kể lại thần thoại. Nguồn được ghi bằng chú thích chân trang, không phải bằng một đoạn thoại trong ngoặc kép.
Chú thích chính văn và chú thích chân trang khác nhau ra sao?
Chú thích chính văn đặt trong ngoặc đơn ngay giữa câu để giải thích tên, địa danh. Chú thích chân trang nằm dưới trang, thường ghi xuất xứ sách hoặc số trang.
Phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản lễ hội Đền Hùng gồm những gì?
Ảnh, sơ đồ, biển báo, màu sắc, kí hiệu mũi tên và cách chia cột. Chúng giúp tìm thông tin nhanh và thấy vị trí các khu trong lễ hội.
Câu 4 bắt buộc viết về lễ hội không?
Không. Em được chọn một trong bốn đề: chủ đề nghị luận đã học, hệ thống văn bản đọc hiểu, hệ thống tiếng Việt, hoặc điều cần chú ý khi đi lễ hội. Bài phải có số liệu, hình hoặc sơ đồ.