Soạn Thực hành tiếng Việt lớp 10 trang 44, 45, 46

Trả lời nhanh

Thực hành tiếng Việt lớp 10 ở trang 44, 45, 46 tập hai, sách Chân trời sáng tạo, xoay quanh từ Hán Việt. Câu 1 sửa tám lỗi về phong cách, nghĩa, khả năng kết hợp và dạng chữ. Câu 2 nối mười ý tiếng Việt với từ Hán Việt, từ giang sơn đến duy tân. Câu 3 viết lại cho trang nhã. Câu cuối là một đoạn khoảng 150 chữ về tài năng văn chương của Nguyễn Trãi.

Câu 1. Chỉ ra lỗi và sửa từ Hán Việt

Mỗi câu dưới đây có một lỗi chính. Em gọi tên lỗi trước, rồi mới thay từ. Bốn kiểu lỗi của cả bài là lệch phong cách, sai nghĩa, kết hợp không cùng loại, và viết sai dạng chữ.

Sơ đồ bốn kiểu lỗi từ Hán Việt: phong cách, sai nghĩa, kết hợp từ và dạng chữ
Hình 1. Tám câu trang 44 rơi vào bốn kiểu lỗi: lệch phong cách, sai nghĩa, kết hợp không cùng loại và viết sai dạng chữ.

a. Câu nói về bố mẹ một đứa bé làm công nhân ở nhà in. Từ song thân có nghĩa là cha mẹ, nhưng sắc thái rất trang trọng, hợp cáo phó hoặc văn cổ hơn là câu kể đời thường có tiếng thằng bé. Sửa: bố mẹ. Song thân không sai nghĩa từ điển. Nó sai chỗ đứng.

b. Câu khen một người giỏi việc máy móc và giỏi việc buôn bán. Cơ khí là danh từ chỉ lĩnh vực. Kinh doanh trong câu đang nghiêng về hoạt động, nên hai vế không cùng kiểu. Sửa thành việc kinh doanh để cả hai đều là đối tượng của giỏi về. Tài hoa thường khen năng khiếu nghệ thuật. Nếu muốn câu chặt thêm, có thể đổi thành tài giỏi, nhưng chỗ bài yêu cầu sửa là việc kinh doanh.

c. Câu hẹn buổi sáng gặp nhau đúng giờ. Tập họp là dạng chữ sai. Họp là mở cuộc họp. Hợp trong tập hợp là họp lại thành một nhóm. Sửa: tập hợp.

d. Câu nói đọc sách chỗ thiếu ánh sáng làm mắt kém đi. Thị giác là giác quan, tức khả năng nhìn nói chung. Thị lực là độ tinh của mắt, thứ có thể giảm. Sửa: thị lực. Đây là lỗi nghĩa, không phải lỗi chính tả.

đ. Câu khen người chú lấy đồ bỏ đi làm món trang trí. Lợi dụng mang ý dùng vào việc riêng, thường là nghĩa xấu, như lợi dụng lòng tin. Ở đây chú dùng thứ bỏ đi vào việc hay, nên phải là tận dụng. Vật phế thải vừa thừa tiếng vật, vừa không đúng tên đồ có thể tái chế. Sửa cả cụm: tận dụng phế liệu.

e. Câu nói ngành trồng trọt chăn nuôi và việc đánh bắt cá cùng phát triển trong một quý. Nông nghiệp là tên một ngành. Nghề đánh cá là cách mô tả. Hai vế không song song. Tên ngành tương ứng là ngư nghiệp. Có lời giải ghi rằng hai cụm này có khả năng kết hợp. Ghi chú ấy ngược với lỗi. Chính vì không cùng kiểu tên gọi nên mới phải sửa.

ê. Câu là lời cháu chúc ông dịp năm mới, xếp an khang với bách niên giai lão. Mỗi cụm đã có nghĩa khỏe và thọ. Xếp cả hai thì trùng ý, lại nặng hơn giọng cháu nói. Sửa: mạnh khỏe và sống lâu trăm tuổi. Viết giai lão, không viết giao lão. Một thành ngữ thôi trong lời chúc Tết thì vẫn được. Lỗi là sự chồng hai thành ngữ.

g. Câu tả hoa xuân làm đời thêm sắc. Tân trang là sửa sang một đồ vật cho mới lại, như tân trang ngôi nhà. Hoa không sửa đời theo nghĩa ấy. Sửa: tô điểm.

h. Câu khen cảnh vật kiều diễm. Kiều diễm nghiêng về vẻ đẹp mềm, thường dùng cho người. Với cảnh nói chung, đáp án đổi thành lộng lẫy. Nếu cảnh chỉ yên chứ không rực rỡ, trong bài viết tự do em có thể dùng đẹp. Trong bài này, từ cần chép là lộng lẫy.

Câu Lỗi Sửa
a Phong cách quá trang trọng song thân thành bố mẹ
b Không cùng kiểu kết hợp kinh doanh thành việc kinh doanh
c Sai dạng chữ tập họp thành tập hợp
d Sai nghĩa thị giác thành thị lực
đ Sai nghĩa và thừa từ tận dụng phế liệu
e Hai vế không song song nghề đánh cá thành ngư nghiệp
ê Trùng ý, lệch giọng cháu mạnh khỏe và sống lâu trăm tuổi
g Sai nghĩa tân trang thành tô điểm
h Từ hẹp, lệch cảnh kiều diễm thành lộng lẫy

Câu 2. Nối ý tiếng Việt với từ Hán Việt

Cột nghĩa và cột từ không xếp sẵn theo cùng một hàng. Em nối theo nghĩa, không nối theo thứ tự chữ cái. Đáp án của bài là 1 với ê, 2 với g, 3 với i, 4 với c, 5 với e, 6 với đ, 7 với a, 8 với b, 9 với d, 10 với h.

Ý tiếng Việt Từ Hán Việt
Non sông, đất nước giang sơn
Yêu người và trọng lẽ phải nhân nghĩa
Tự mình làm chủ, không phụ thuộc độc lập
Người có tài và chí hơn người hào kiệt
Chạy vạy vất vả để lo một việc bôn tẩu
Mong tìm được người tài đức cầu hiền
Gió và mây phong vân
Quý và giữ sự sống hiếu sinh
Lạ mà hay, khác thường kì diệu
Đổi theo hướng mới duy tân

Hai cặp dễ tráo. Nhân nghĩa nói về người và lẽ phải. Hiếu sinh nói về sự sống, có thể là người hoặc loài khác. Hào kiệt là chính người tài. Cầu hiền là hành động đi tìm người ấy. Em thử bằng một câu: nước cần cầu hiền để có hào kiệt. Hai từ không thay được cho nhau.

Phong vân trong bài này lấy nghĩa đen là gió mây. Ngoài bài, phong vân còn có nghĩa bóng là biến động. Đừng mang nghĩa bóng vào chỗ cột ý chỉ ghi gió mây. Duy tân tách được: duy là theo, tân là mới, nên nghĩa là đổi mới. Bôn tẩu không phải chạy thể thao. Nó là sự tất bật, vất vả vì một việc phải lo.

Luyện nhanh. Điền từ: Người ấy suốt tháng … khắp nơi để … cho làng. Đáp: bôn tẩu, cầu hiền. Cảnh gió mây trước trận là phong vân. Việc chưa từng thấy mà rất hay là kì diệu.

Câu 3. Viết lại cho trang nhã

Mỗi câu gốc nói một ý đời thường. Câu mới giữ đúng ý, chỉ đổi những chỗ có từ Hán Việt gọn và lịch hơn. Không thêm sự kiện.

a. Ý gốc: món ăn thức uống của Việt Nam có rất nhiều loại. Viết lại: Ẩm thực Việt Nam rất đa dạng, phong phú. Ẩm thực thay cho cách kể ăn uống. Đa dạng, phong phú thay cho rất nhiều thứ.

b. Ý gốc: nguyên thủ Pháp cùng vợ sẽ sang chơi nước ta từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 11. Viết lại: Tổng thống Pháp và phu nhân sẽ công du nước ta vào khoảng từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 11 năm nay. Phu nhân trang trọng hơn vợ trong câu đưa tin. Công du là chuyến đi mang tính nhà nước, không phải thăm chơi.

c. Ý gốc: bẻ hoa, giẫm cỏ, xả rác ở chỗ chung là việc phải chấm dứt. Viết lại: Bẻ bông, giẫm lên cỏ trong công viên, xả rác nơi công cộng là hành động cần phải dẹp bỏ. Công viên và công cộng là hai chỗ được nâng lên từ cách nói vườn hoa chung, nơi ở chung.

d. Ý gốc: người đứng đầu các nước lo trước cảnh mua bán rối ren. Viết lại: Người đứng đầu các quốc gia đều bày tỏ sự lo sợ trước tình hình kinh tế đang có nhiều thay đổi phức tạp như hiện nay. Quốc gia, kinh tế, phức tạp là ba từ cần có. Giữ lo sợ như đáp án của bài. Quan ngại còn trang trọng hơn, nhưng không bắt buộc nếu thầy cô chấm theo ba từ trên.

đ. Ý gốc: tiền trả cho bài báo của ông ấy rất cao. Viết lại: Nhuận bút của ông ấy rất cao. Nhuận bút là tiền công cho bài viết đã đăng.

e. Ý gốc: anh ấy nhờ em làm thay đống giấy tờ. Viết lại: Anh ấy bảo tôi thay anh ấy làm hết những thủ tục này. Thủ tục thay cho giấy tờ. Ủy thác còn Hán Việt hơn, nhưng bài chỉ đòi chỗ thủ tục.

ê. Ý gốc: nền kinh tế nước ấy khỏe lại, từ đi sau thành đi trước. Viết lại: Nền kinh tế nước ấy đã phục hồi mạnh mẽ và từ chỗ tụt hậu dần trở thành tiên phong. Phục hồi, tụt hậu, tiên phong thay cho mạnh trở lại, đi sau, đi trước.

g. Ý gốc: nghĩa sĩ Cần Giuộc dám đánh vào đồn Pháp, không sợ chết. Viết lại: Các nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm đánh vào đồn giặc Pháp, không sợ hi sinh. Dũng cảm thay cho bạo dạn. Hi sinh thay cho chết chóc, vì đây là cái chết vì việc nghĩa, không phải tai nạn suông.

h. Ý gốc: điều ông ấy nói trong cuộc họp bị nhiều người chống. Viết lại: Những điều ông ấy nói trong cuộc họp đã bị nhiều người phản đối. Phản đối gọn và đúng sắc thái hội họp hơn chống lại.

Đoạn văn về tài năng Nguyễn Trãi

Đoạn khoảng 150 chữ, không phải bài nghị luận dài. Dàn ý bốn câu. Câu mở: Nguyễn Trãi viết được cả chính luận chữ Hán và thơ tiếng Việt. Hai câu thân: Bình Ngô đại cáo có lập luận từng bậc và giọng biền ngẫu. Quốc âm thi tập đưa cảnh quê, nếp nhà vào thơ Nôm Đường luật. Câu kết: ông đổi giọng được, nên vừa có áng văn thời chiến, vừa đặt nền cho văn viết bằng tiếng Việt. Không cần kể hết tiểu sử. Không chép nguyên câu trong đại cáo.

Đoạn mẫu khoảng 150 chữ:

Nguyễn Trãi viết vững cả chính luận chữ Hán và thơ tiếng Việt. Trong Bình Ngô đại cáo, ông không dừng ở lời reo thắng trận. Bài cáo đi từng bậc: lẽ nhân nghĩa, tội ác của quân xâm lược, sức dân trong khởi nghĩa Lam Sơn, rồi câu khẳng định nền độc lập. Vế biền ngẫu cân mà có hình ảnh, giọng văn khi đau khi rắn. Quốc âm thi tập mở hướng khác. Ông đưa cảnh quê, nếp nhà và lẽ ở đời vào thơ Nôm theo Đường luật. Tiếng Việt ở đó đã thành nhịp thơ, không còn là lời nói suông. Tài năng của ông là biết đổi giọng: chính luận thì chặt, thơ Nôm thì gần. Nhờ vậy Nguyễn Trãi vừa để lại áng văn thời chiến còn đọc được hôm nay, vừa đặt nền cho văn học viết bằng tiếng Việt.

Em đổi dẫn chứng nếu nhớ một bài thơ Nôm cụ thể hơn, nhưng giữ bốn phần trên. Đừng biến đoạn thành tiểu sử từ năm sinh đến năm mất. Đề hỏi tài năng văn chương, không hỏi cả sự nghiệp chính trị.

Bài soạn cùng cụm

Bốn câu của bài thực hành và các bài Nguyễn Trãi xung quanh có trang riêng. Em mở đúng câu khi cần chép vào vở, rồi quay lại đoạn mẫu ở trên nếu đề hỏi viết.

  • Câu 1. Chỉ ra lỗi dùng từ Hán Việt và sửa
  • Câu 2. Chọn từ Hán Việt tương đương
  • Câu 3. Viết lại câu cho trang nhã
  • Đoạn văn về tài năng Nguyễn Trãi
  • Soạn bài Bảo kính cảnh giới
  • Soạn bài Dục Thuý sơn
  • Soạn bài Nguyễn Trãi – nhà ngoại giao, nhà hiền triết, nhà thơ
  • Soạn bài viết luận thuyết phục người khác

Câu hỏi thường gặp

Tập họp hay tập hợp mới đúng?

Tập hợp. Tập họp là dạng chữ sai, lẫn họp cuộc họp với hợp trong việc tụ lại.

Vì sao thị giác phải đổi thành thị lực?

Thị giác là giác quan. Thị lực mới là độ tinh của mắt, thứ có thể giảm khi đọc thiếu ánh sáng.

Nhân nghĩa và hiếu sinh khác nhau thế nào?

Nhân nghĩa là yêu người và trọng lẽ phải. Hiếu sinh là quý sự sống, không chỉ nói về đạo lí giữa người với người.

Nhuận bút thay cho cụm nào?

Thay cho cách nói tiền công viết báo. Câu viết lại là: Nhuận bút của ông ấy rất cao.

Đoạn về Nguyễn Trãi nên dài bao nhiêu?

Khoảng 150 chữ, bốn ý: mở về hai bờ chữ Hán và tiếng Việt, Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập, câu kết về việc đặt nền.