Trả lời nhanh
Qua Đèo Ngang và Thu vịnh cùng là thơ thất ngôn bát cú Đường luật mang phong cách cổ điển: tả cảnh ngụ tình, cảnh mang nét buồn, cuối bài bộc lộ nỗi niềm thời thế. Khác biệt nằm ở không gian (đèo núi chiều tà – trời thu làng quê), giọng điệu (trang trọng, đài các – thanh sơ, tinh tế) và tâm trạng (nỗi cô đơn “ta với ta” – nỗi thẹn của nhà nho trước nhân cách “ông Đào”).
Đề bài và yêu cầu
Đề: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ cùng phong cách cổ điển: Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) và Thu vịnh (Nguyễn Khuyến).
Đây là kiểu bài “so sánh, đánh giá”, nên bài viết cần làm rõ ba việc: chỉ ra điểm tương đồng, phân tích điểm khác biệt và lí giải, đánh giá vì sao có sự giống – khác ấy (hoàn cảnh, cá tính sáng tạo, phong cách). Tránh viết thành hai bài phân tích rời rạc đặt cạnh nhau.
Văn bản hai bài thơ
| Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan | Thu vịnh – Nguyễn Khuyến |
|---|---|
| Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta. |
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. |
Bảng so sánh nhanh hai bài thơ
| Phương diện | Qua Đèo Ngang | Thu vịnh |
|---|---|---|
| Tác giả, hoàn cảnh | Bà Huyện Thanh Quan (thế kỉ XIX); tương truyền viết trên đường vào Phú Xuân nhận chức | Nguyễn Khuyến (1835 – 1909); viết khi đã cáo quan về quê Yên Đổ, đất nước rơi vào tay thực dân |
| Thể thơ | Cùng là thất ngôn bát cú Đường luật, đối chỉnh, kết cấu đề – thực – luận – kết | |
| Không gian, thời gian | Đèo núi hoang vắng, lúc chiều tà; tầm nhìn mở rộng ra “trời, non, nước” | Trời thu làng quê Bắc Bộ, có trăng; tầm nhìn đi từ trời cao xuống song cửa, giậu hoa |
| Bút pháp | Đảo ngữ, từ láy, chơi chữ đồng âm “quốc quốc – gia gia” | Màu sắc thanh nhẹ, từ láy gợi cảm, điển cố “ông Đào”, câu hỏi tu từ |
| Tâm trạng | Nhớ nước, thương nhà, cô đơn tuyệt đối “ta với ta” | Buồn trước thời thế, tự vấn, “thẹn” vì chưa giữ trọn khí tiết như Đào Tiềm |
| Giọng điệu | Trang trọng, đài các, trầm buồn | Nhẹ nhàng, hóm hỉnh kín đáo, thâm trầm |

Dàn ý chi tiết bài nghị luận so sánh
Mở bài
- Giới thiệu thơ trung đại Việt Nam thế kỉ XIX với nhiều bài thơ Đường luật tả cảnh ngụ tình.
- Nêu hai tác phẩm: Qua Đèo Ngang và Thu vịnh; định hướng: cùng phong cách cổ điển nhưng mang dấu ấn riêng của hai hồn thơ.
Thân bài
- Giới thiệu khái quát tác giả, hoàn cảnh sáng tác của từng bài (ngắn gọn, phục vụ so sánh).
- Điểm tương đồng:
- Cùng thể thất ngôn bát cú Đường luật, kết cấu chặt chẽ, đối ở hai cặp thực – luận.
- Cùng thi pháp cổ điển: tả cảnh ngụ tình, lấy cảnh thiên nhiên gợi tâm trạng, ngôn ngữ hàm súc.
- Cảnh đều mang vẻ đẹp thanh vắng, phảng phất buồn; con người nhỏ bé, cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn.
- Cùng ẩn chứa tình yêu quê hương, đất nước và nỗi niềm trước thời thế.
- Điểm khác biệt:
- Cảnh: đèo núi hoang sơ, rậm rạp, lúc chiều tà (Qua Đèo Ngang) – trời thu cao trong, nước biếc, trăng thu nơi làng quê (Thu vịnh).
- Ngôn ngữ, bút pháp: đảo ngữ, chơi chữ, giọng đài các – màu sắc thanh nhẹ, từ láy gợi hồn thu, điển cố, giọng tự trào kín đáo.
- Tâm trạng: nỗi nhớ nước thương nhà và cô đơn khép kín của người lữ khách – nỗi buồn thời thế và sự tự vấn nhân cách của nhà nho ở ẩn.
- Lí giải sự khác biệt: hoàn cảnh sáng tác, thân phận và cá tính mỗi tác giả (một nữ sĩ xa quê – một nhà khoa bảng từ quan).
- Đánh giá: hai bài thơ đều là đỉnh cao của thơ Đường luật tiếng Việt; vừa kế thừa thi pháp cổ điển vừa mang giọng riêng.
Kết bài
- Khẳng định giá trị của hai tác phẩm và ý nghĩa của việc đặt chúng cạnh nhau.
- Liên hệ: bài học về cách cảm nhận thơ cổ, về tình yêu quê hương và nhân cách.
Bài văn mẫu 1 – So sánh theo từng phương diện
Thơ trung đại Việt Nam thế kỉ XIX để lại nhiều bài thơ Đường luật tả cảnh ngụ tình, trong đó Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến là hai thi phẩm thường được nhắc đến cùng nhau. Đặt hai bài thơ cạnh nhau, ta thấy rõ một phong cách cổ điển chung, đồng thời nhận ra hai tâm hồn rất riêng.
Trước hết, hai bài thơ gặp nhau ở thể loại và thi pháp. Cả hai đều là thất ngôn bát cú Đường luật, tuân thủ niêm luật, đối chỉnh ở hai cặp câu giữa. Cả hai đều lấy cảnh làm điểm tựa để bộc lộ tình: Bà Huyện Thanh Quan đứng trên đèo lúc “bóng xế tà”, Nguyễn Khuyến ngắm “trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”. Cảnh ở hai bài đều thanh vắng, ít người, ít tiếng động, và đều phảng phất một nỗi buồn khó gọi tên.
Thế nhưng, cảnh trong mỗi bài lại mang một sắc thái khác. Cảnh Đèo Ngang hoang sơ với điệp từ “chen” trong “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”, gợi sự rậm rạp, um tùm. Con người hiện lên qua phép đảo ngữ và từ láy “lom khom”, “lác đác”, chỉ “vài chú” tiều, “mấy nhà” chợ – nhỏ bé, thưa thớt giữa núi đèo. Cảnh trong Thu vịnh lại trong trẻo, cao rộng: trời xanh ngắt, nước biếc như khói phủ, trăng lặng lẽ lọt qua song thưa. Đó là cảnh thu đặc trưng của làng quê Bắc Bộ, thanh sơ mà sâu lắng.
Khác biệt rõ nhất nằm ở tâm trạng. Ở Qua Đèo Ngang, tiếng chim quốc, chim đa đa được nghe bằng tâm trạng “nhớ nước đau lòng”, “thương nhà mỏi miệng”; lối chơi chữ “quốc quốc – gia gia” biến âm thanh tự nhiên thành tiếng lòng. Câu kết “Một mảnh tình riêng, ta với ta” đẩy nỗi cô đơn lên tột cùng: giữa trời, non, nước bao la, chỉ còn mình đối diện với mình. Ở Thu vịnh, nỗi buồn lắng sâu hơn vào chiều suy tư. Tiếng ngỗng trời “nước nào?” như một câu hỏi bâng khuâng; “hoa năm ngoái” gợi thời gian trôi mà cảnh cũ, người cũ vẫn thế. Hai câu kết là lời tự vấn: định làm thơ mà lại “thẹn với ông Đào” – thẹn vì chưa dứt khoát, cao khiết như Đào Tiềm, người sớm từ quan về ẩn. Nỗi thẹn ấy cho thấy một nhân cách trong sạch, biết tự nghiêm khắc với mình trong buổi đất nước mất chủ quyền.
Sự khác nhau ấy bắt nguồn từ hoàn cảnh và cá tính mỗi tác giả. Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ xa quê, hồn thơ hoài cổ, giọng thơ trang trọng, đài các. Nguyễn Khuyến là bậc khoa bảng đã cáo quan, gắn bó với làng quê, nên thơ ông giản dị, thâm trầm mà thấm đẫm tâm sự thời thế.
Tóm lại, Qua Đèo Ngang và Thu vịnh cùng kế thừa vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường luật nhưng mỗi bài mang một giọng riêng. Đọc hai bài thơ, ta vừa cảm được vẻ đẹp của thiên nhiên đất Việt, vừa thấu hiểu những tâm hồn nặng lòng với quê hương trong một thời buổi nhiều biến động.
Bài văn mẫu 2 – Hai nỗi cô đơn trong thơ cổ điển
Có những nỗi cô đơn được nói thẳng, có những nỗi cô đơn chỉ hiện ra qua một tiếng chim, một vầng trăng. Qua Đèo Ngang và Thu vịnh là hai bài thơ như vậy.
Nỗi cô đơn của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi cô đơn của người lữ khách trên đường xa. Chiều tà, đèo cao, cảnh vật vừa rậm rạp vừa vắng vẻ. Tiếng chim quốc, chim đa đa càng làm không gian thêm hiu quạnh. Đến khi “dừng chân đứng lại”, trước mắt là trời, non, nước mênh mông, nhà thơ chỉ còn “ta với ta”. Cách dùng hai chữ “ta” đối diện nhau khiến nỗi cô đơn trở nên khép kín, không có ai để sẻ chia.
Nỗi cô đơn của Nguyễn Khuyến lặng lẽ hơn, đến từ một mùa thu yên ả. Trời cao, nước biếc, gió hắt hiu, trăng tự “vào” qua song thưa như một người bạn không mời mà đến. Thi nhân ngồi một mình, nghe tiếng ngỗng trời xa và tự hỏi “nước nào?”. Cái cô đơn ở đây là cô đơn của người trí thức đứng ngoài thời cuộc, muốn làm thơ cho khuây khỏa nhưng lại “thẹn với ông Đào”.
Một bên cô đơn trong không gian rộng lớn, một bên cô đơn trong chiều sâu suy tư. Nhưng cả hai đều cho thấy những tâm hồn biết yêu quê hương và trăn trở trước thời thế. Chính chiều sâu nội tâm ấy làm nên sức sống lâu bền cho hai bài thơ.
Bài văn mẫu 3 – Từ góc nhìn nghệ thuật cổ điển
Nếu coi thơ Đường luật là một “khuôn” nghệ thuật chặt chẽ, thì Qua Đèo Ngang và Thu vịnh là hai minh chứng cho thấy khuôn ấy vẫn để chỗ cho sáng tạo.
Cả hai bài đều có kết cấu bốn phần quen thuộc: hai câu đề mở cảnh, hai câu thực tả cảnh chi tiết, hai câu luận chuyển dần sang tình, hai câu kết bộc lộ tâm sự. Cả hai đều dùng phép đối: “Lom khom dưới núi” đối với “Lác đác bên sông”; “Mấy chùm trước giậu” đối với “Một tiếng trên không”.
Song cách “chơi” với khuôn của mỗi người lại khác. Bà Huyện Thanh Quan đẩy kĩ thuật lên mức tinh xảo: đảo ngữ đưa từ láy lên đầu câu, chơi chữ đồng âm “quốc quốc – gia gia” vừa là tiếng chim vừa là “nước – nhà”. Nguyễn Khuyến lại chọn sự giản dị: từ ngữ thuần Việt như “xanh ngắt”, “lơ phơ”, “hắt hiu”; hình ảnh gần gũi như cần trúc, song thưa, giậu hoa; và một điển cố duy nhất “ông Đào” đặt ở cuối bài, nặng ý nghĩa nhân cách. Một bên trau chuốt, đài các; một bên thanh đạm, tự nhiên. Cả hai đều cho thấy thơ Đường luật tiếng Việt đã đạt độ chín ở thế kỉ XIX.
Bài văn mẫu 4 – Nỗi niềm thời thế qua hai câu kết
Thơ cổ thường dồn sức nặng vào câu kết, và hai câu kết của Qua Đèo Ngang và Thu vịnh chính là nơi hai thi nhân gửi gắm nỗi niềm sâu xa nhất.
“Một mảnh tình riêng, ta với ta” khép lại hành trình qua đèo bằng một khoảnh khắc lặng im. “Tình riêng” ấy là nỗi nhớ nước, thương nhà đã gợi ra ở hai câu luận; nhiều ý kiến cho rằng đó còn là nỗi hoài cổ, tiếc nhớ một thời đã qua. Nỗi niềm không thể nói cùng ai, chỉ có thể tự mình mang lấy.
“Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” là một cái kết bất ngờ. Đang có hứng làm thơ, Nguyễn Khuyến bỗng dừng bút vì so mình với Đào Tiềm. Đào Tiềm từ quan sớm, sống thanh bạch; còn nhà thơ từng ra làm quan, nay đất nước rơi vào tay giặc mà mình chỉ ở ẩn. Chữ “thẹn” cho thấy một nhân cách lớn: biết tự nhìn lại mình, không bằng lòng với sự an phận.
Hai câu kết, hai sắc thái: một bên là cô đơn, một bên là tự vấn. Nhưng cả hai cùng nói lên tình yêu đất nước kín đáo và trách nhiệm của người trí thức trước thời cuộc – điều làm nên giá trị nhân văn sâu sắc của hai bài thơ.
Một số mở bài và kết bài tham khảo
Mở bài gián tiếp: Mùa thu và buổi chiều là hai “thời khắc” quen thuộc nhất của thơ cổ, nơi lòng người dễ chùng xuống trước cảnh vật. Bà Huyện Thanh Quan dừng chân trên Đèo Ngang lúc chiều tà, Nguyễn Khuyến ngồi lặng giữa đêm thu làng quê; mỗi người để lại một bài thơ Đường luật mẫu mực.
Kết bài mở rộng: Đọc lại hai bài thơ hôm nay, ta không chỉ thấy vẻ đẹp của một lối thơ cổ điển mà còn học được cách người xưa nhìn cảnh để soi vào lòng mình, biết yêu quê hương và biết tự nghiêm khắc với chính mình.
Lỗi thường gặp khi viết bài so sánh
- Phân tích tách rời: viết xong bài này mới sang bài kia, không có câu so sánh. Nên dùng các cụm nối như “nếu… thì…”, “cùng…, nhưng…”.
- Chỉ liệt kê giống – khác: thiếu phần lí giải và đánh giá, trong khi đây là yêu cầu cốt lõi của kiểu bài.
- Hiểu sai điển cố: “ông Đào” là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng từ quan về ở ẩn, không phải một người làng.
Xem thêm hướng dẫn viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ, các bài mẫu so sánh Đây mùa thu tới và Tràng giang, so sánh Tống biệt và Tống biệt hành hoặc trọn bộ văn mẫu lớp 12 Chân trời sáng tạo.
Câu hỏi thường gặp
Qua Đèo Ngang và Thu vịnh giống nhau ở điểm nào?
Hai bài cùng là thơ thất ngôn bát cú Đường luật, cùng phong cách cổ điển với bút pháp tả cảnh ngụ tình; cảnh thanh vắng, buồn và cuối bài đều bộc lộ tình yêu quê hương, nỗi niềm trước thời thế.
Điểm khác nhau lớn nhất giữa Qua Đèo Ngang và Thu vịnh là gì?
Qua Đèo Ngang tả đèo núi chiều tà với giọng trang trọng, kết ở nỗi cô đơn “ta với ta”; Thu vịnh tả trời thu làng quê với giọng thanh sơ, kết ở nỗi “thẹn với ông Đào” – sự tự vấn nhân cách của nhà nho.
“Ông Đào” trong bài Thu vịnh là ai?
Ông Đào là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), nhà thơ Trung Quốc thời Đông Tấn, nổi tiếng vì từ quan về ở ẩn, sống thanh bạch, không chịu khom lưng vì bổng lộc.
Viết bài nghị luận so sánh hai bài thơ cần tránh lỗi gì?
Tránh phân tích hai bài tách rời, chỉ liệt kê giống khác mà không lí giải, đánh giá; cần có tiêu chí so sánh rõ ràng và câu chuyển ý thể hiện quan hệ đối chiếu.