Trả lời nhanh
Bài 9 VBT Sinh 9 xoay quanh một ý chính: trong nguyên phân, NST nhân đôi ở kì trung gian rồi phân li đồng đều ở kì sau, nên hai tế bào con có bộ NST giống hệt tế bào mẹ. Đáp án các câu trắc nghiệm: sự tự nhân đôi của NST diễn ra ở kì trung gian (D); ý nghĩa cơ bản của nguyên phân là sự sao chép nguyên vẹn bộ NST của tế bào mẹ cho hai tế bào con (B).
Bài viết này giải lần lượt các bài tập trang 21–24 của vở bài tập Sinh học 9 (chương trình cũ) Bài 9: Nguyên phân. Mỗi bài đều có phần giải thích “vì sao”, để em không chỉ chép đáp án mà hiểu được cách làm khi gặp câu hỏi biến tấu trong bài kiểm tra. Em có thể đối chiếu thêm với phần lý thuyết bên dưới hoặc các bài liên quan: Giải Sinh học 9 Bài 9, Lý thuyết Sinh học 9 Bài 9 và 30 câu trắc nghiệm Bài 9.
Tóm tắt kiến thức cần nhớ trước khi làm VBT
- Chu kì tế bào gồm kì trung gian (dài nhất) và quá trình nguyên phân (4 kì: đầu, giữa, sau, cuối).
- Kì trung gian: tế bào sinh trưởng, NST ở dạng sợi mảnh (duỗi xoắn) và nhân đôi thành NST kép gồm 2 crômatit dính nhau ở tâm động.
- Nguyên phân: từ 1 tế bào mẹ (2n) tạo ra 2 tế bào con (2n) có bộ NST giống nhau và giống mẹ.
- Ý nghĩa: giúp cơ thể lớn lên, thay thế tế bào già/chết, và là hình thức sinh sản của tế bào; đồng thời duy trì ổn định bộ NST đặc trưng của loài.
I. Bài tập nhận thức kiến thức mới
Bài tập 1 trang 21: Bảng 9.1 – Mức độ đóng, duỗi xoắn của NST
Đề yêu cầu quan sát hình 9.2 SGK và ghi mức độ đóng xoắn – duỗi xoắn của NST qua từng kì. Hai mức độ này luôn “trái ngược” nhau: chỗ nào đóng xoắn nhiều thì duỗi xoắn ít và ngược lại.
| Hình thái NST | Kì trung gian | Kì đầu | Kì giữa | Kì sau | Kì cuối |
|---|---|---|---|---|---|
| Mức độ đóng xoắn | Không (sợi mảnh) | Bắt đầu đóng xoắn, tăng dần | Cực đại (nhiều nhất) | Còn cao, bắt đầu giảm | Giảm dần, gần như không |
| Mức độ duỗi xoắn | Nhiều nhất | Ít | Không (thấp nhất) | Bắt đầu tăng | Nhiều (trở lại sợi mảnh) |
Lưu ý khi ghi vào vở: VBT dùng các mức “không – ít – nhiều – rất nhiều”. Em ghi theo đúng xu hướng trên: đóng xoắn tăng dần từ trung gian đến đỉnh điểm ở kì giữa, rồi giảm dần đến kì cuối. Mốc chắc chắn nhất cần nhớ là kì giữa đóng xoắn cực đại và kì trung gian duỗi xoắn nhiều nhất; nếu thầy cô chấm theo bảng riêng, em ưu tiên bảng của lớp mình.
Bài tập 2 trang 22: Bảng 9.2 – Diễn biến cơ bản của NST ở các kì
| Các kì | Diễn biến cơ bản của NST |
|---|---|
| Kì đầu | NST kép bắt đầu đóng xoắn, co ngắn; tâm động của mỗi NST kép đính vào sợi thoi phân bào. |
| Kì giữa | NST kép đóng xoắn cực đại; các NST kép xếp thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào. |
| Kì sau | Mỗi NST kép tách ở tâm động thành 2 NST đơn; hai NST đơn phân li về hai cực của tế bào nhờ sợi thoi. |
| Kì cuối | NST đơn dãn xoắn, trở về dạng sợi mảnh; màng nhân và nhân con xuất hiện trở lại. |
Mẹo nhớ: “Đầu – đóng; Giữa – giàn hàng; Sau – sẻ đôi; Cuối – cởi xoắn”. Bốn chữ cái đầu của mỗi cụm khớp với tên kì nên rất dễ thuộc.
II. Bài tập tóm tắt và ghi nhớ kiến thức cơ bản
Bài tập 1 trang 23: Điền từ vào chỗ trống
- Hình thái của NST biến đổi qua các kì của chu kì tế bào thông qua sự đóng và duỗi xoắn của nó.
- Cấu trúc riêng biệt của mỗi NST được duy trì liên tục qua các thế hệ.
- Trong chu kì tế bào, NST được nhân đôi ở kì trung gian và sau đó lại phân li đồng đều trong nguyên phân. Nhờ đó, 2 tế bào con có bộ NST giống tế bào mẹ.
- Nguyên phân là phương thức sinh sản của tế bào và sự lớn lên của cơ thể, đồng thời duy trì ổn định bộ NST đặc trưng của loài qua các thế hệ tế bào.
Vì sao? Cặp từ “nhân đôi – phân li” là cốt lõi: nhân đôi giúp có đủ vật chất di truyền, phân li đồng đều giúp mỗi tế bào con nhận đúng một bản.
Bài tập 2 trang 23
Kì trung gian là thời kì sinh trưởng của tế bào, trong đó NST ở dạng sợi mảnh duỗi xoắn và diễn ra sự nhân đôi (tự nhân đôi) của NST.
III. Bài tập củng cố, hoàn thiện kiến thức
Bài tập 1 trang 23
Câu hỏi: Biến đổi hình thái NST (đóng, duỗi xoắn) điển hình ở những kì nào? Vì sao có tính chu kì?
Trả lời: Sự biến đổi này diễn ra qua cả 5 giai đoạn của chu kì tế bào: kì trung gian, kì đầu, kì giữa, kì sau, kì cuối. Tế bào còn khả năng phân chia luôn lặp lại vòng đời “trung gian → nguyên phân” nhiều lần, mỗi vòng NST lại duỗi xoắn rồi đóng xoắn, rồi lại duỗi xoắn. Vì chu kì tế bào lặp đi lặp lại nên sự đóng – duỗi xoắn cũng lặp lại theo, tức là có tính chu kì.
Bài tập 2 trang 23: Trắc nghiệm
Đáp án D – kì trung gian. Cụ thể, NST nhân đôi ở pha S của kì trung gian, khi NST còn ở dạng sợi mảnh nên enzim dễ tiếp cận để sao chép ADN.
- A, B, C sai: đến kì đầu, kì giữa, kì sau thì NST đã là NST kép (đã nhân đôi xong) và đóng xoắn chặt, không thể tự nhân đôi nữa. Ở kì sau chỉ có sự tách chứ không phải nhân đôi.
Bài tập 3 trang 23, 24: Diễn biến cơ bản của NST trong nguyên phân
- Kì đầu: NST kép co ngắn, đóng xoắn; tâm động đính vào thoi phân bào.
- Kì giữa: NST kép đóng xoắn cực đại, xếp thành một hàng ở mặt phẳng xích đạo.
- Kì sau: hai crômatit của mỗi NST kép tách nhau ở tâm động thành hai NST đơn, được thoi vô sắc kéo về hai cực.
- Kì cuối: NST đơn dãn xoắn, trở về dạng sợi mảnh.
Khi trình bày, em nên nêu rõ hai điểm hay bị chấm trừ: “kì giữa xếp một hàng” và “kì sau tách ở tâm động“.
Bài tập 4 trang 24: Ý nghĩa cơ bản của nguyên phân
Đáp án B – sự sao chép nguyên vẹn bộ NST của tế bào mẹ cho hai tế bào con.
- A sai: nguyên phân chia “chất nhân” nhưng ý nghĩa cốt lõi là bộ NST (mang ADN) được truyền nguyên vẹn, không chỉ là chia đều.
- C sai: đây chỉ là một diễn biến ở kì sau, không phải ý nghĩa.
- D sai: tế bào chất chỉ phân chia gần đều, không đảm bảo đồng đều tuyệt đối, và không phải điều quyết định tính ổn định di truyền.
Bài tập 5 trang 24: Dạng bài ruồi giấm 2n = 8
Phần đề đầy đủ của bài này không hiển thị trọn vẹn, nhưng dạng quen thuộc là cho ruồi giấm có 2n = 8 rồi hỏi số NST (hoặc số crômatit) ở từng kì. Em dùng bảng sau để suy ra nhanh. Đây là ví dụ minh hoạ cho phương pháp, em hãy thay số 2n theo đề của mình.

| Kì | Số NST | Trạng thái | Số crômatit |
|---|---|---|---|
| Kì đầu | 8 | NST kép | 16 |
| Kì giữa | 8 | NST kép | 16 |
| Kì sau | 16 | NST đơn | 0 |
| Kì cuối (mỗi tế bào con) | 8 | NST đơn | 0 |
Ví dụ: một tế bào ruồi giấm đang ở kì sau của nguyên phân có 16 NST đơn (gấp đôi bình thường vì mỗi NST kép đã tách thành 2 NST đơn).
Lỗi sai thường gặp ở bài này
- Nhầm “số NST” với “số crômatit”: một NST kép có 2 crômatit nhưng vẫn tính là 1 NST.
- Cho rằng NST nhân đôi ở kì đầu hoặc kì giữa. Nhân đôi chỉ xảy ra ở kì trung gian.
- Nghĩ kì sau có 2n NST. Thực tế kì sau có 4n NST đơn (tạm thời trong một tế bào), kì cuối mỗi tế bào con lại có 2n.
- Quên rằng kì trung gian không thuộc nguyên phân nhưng thuộc chu kì tế bào.
Bài luyện tập tự đặt (có đáp án)
- Người có 2n = 46. Tế bào ở kì giữa nguyên phân có bao nhiêu NST kép, bao nhiêu crômatit? Ở kì sau có bao nhiêu NST đơn?
Đáp án: kì giữa có 46 NST kép, 92 crômatit; kì sau có 92 NST đơn. - Một tế bào lúa nước (2n = 24) nguyên phân liên tiếp 3 lần. Tạo ra bao nhiêu tế bào con, mỗi tế bào có bao nhiêu NST?
Đáp án: 23 = 8 tế bào con; mỗi tế bào có 24 NST (tổng 8 × 24 = 192 NST). - Giải thích: vì sao tế bào da con người sau nhiều lần nguyên phân vẫn có 46 NST?
Gợi ý: NST nhân đôi một lần ở kì trung gian rồi phân li đồng đều ở kì sau, nên mỗi lần phân bào số NST được giữ nguyên.
Cách học nhanh Bài 9 trước kiểm tra
- Vẽ sơ đồ 4 kì và ghi dưới mỗi hình: trạng thái NST (kép/đơn), số NST, vị trí.
- Học thuộc câu mốc: “nhân đôi ở trung gian – phân li ở kì sau”.
- Làm lại các bảng 9.1 và 9.2 không nhìn đáp án, rồi kiểm tra.
Câu hỏi thường gặp
NST tự nhân đôi ở kì nào của chu kì tế bào?
NST nhân đôi ở kì trung gian (cụ thể là pha S), khi NST còn ở dạng sợi mảnh duỗi xoắn. Sau đó mỗi NST trở thành NST kép gồm 2 crômatit.
Vì sao sự đóng và duỗi xoắn của NST có tính chu kì?
Vì tế bào còn khả năng phân chia lặp lại chu kì tế bào (trung gian rồi nguyên phân) nhiều lần, nên NST cũng lặp lại quá trình duỗi xoắn rồi đóng xoắn theo từng chu kì.
Ý nghĩa cơ bản của nguyên phân là gì?
Là sự sao chép nguyên vẹn bộ NST của tế bào mẹ cho hai tế bào con, nhờ đó duy trì bộ NST đặc trưng của loài, giúp cơ thể lớn lên và thay thế tế bào.
Kì sau nguyên phân có bao nhiêu NST nếu tế bào có 2n = 8?
Có 16 NST đơn, vì mỗi NST kép tách thành hai NST đơn nên số NST tạm thời tăng gấp đôi, sau đó mỗi tế bào con ở kì cuối nhận 8 NST.