Tức cảnh Pác Bó – Tác giả, tác phẩm, đọc hiểu, sơ đồ tư duy Ngữ văn 8

Trả lời nhanh

Hồ Chí Minh viết bài thơ Tức cảnh Pác Bó vào tháng 2/1941, khi Người vừa về nước, sống và làm việc trong hang Pác Bó (Cao Bằng). Bài thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm. Ba câu đầu kể cảnh sinh hoạt, làm việc đầy gian khổ. Câu cuối khép lại bằng chữ “sang”, nhãn tự của cả bài, cho thấy tinh thần lạc quan, phong thái ung dung và niềm vui được sống vì lí tưởng cách mạng.

Văn bản bài thơ Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Chú thích nhanh một số từ:

  • Cháo bẹ: cháo nấu bằng ngô. Ở vùng núi Cao Bằng, ngô còn được gọi là “bẹ”.
  • Rau măng: rau rừng và măng, những thứ tự mọc quanh hang suối.
  • Dịch sử Đảng: Bác dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô sang tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện cán bộ.
  • Chông chênh: từ láy, chỉ thế không vững, dễ nghiêng, dễ đổ.

Tác giả Hồ Chí Minh

  • Năm sinh – năm mất: 1890 – 1969.
  • Quê quán: làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
  • Vai trò: lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
  • Sự nghiệp văn học: Người viết văn chính luận (Tuyên ngôn độc lập), truyện và kí (Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu), thơ chữ Hán (tập Nhật kí trong tù) và thơ tiếng Việt (Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng…).
  • Phong cách thơ: có cả màu sắc cổ điển lẫn tinh thần hiện đại. Lời thơ giản dị, tự nhiên, thường hóm hỉnh và luôn sáng lên niềm lạc quan.
  • Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người, UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.

Đôi nét về tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

Năm 1941, sau ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, Bác về nước và trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người ở trong hang Pác Bó, sát biên giới Việt – Trung thuộc tỉnh Cao Bằng. Ở đây Bác ăn uống kham khổ, chỗ ở ẩm thấp, thường xuyên phải lánh sự truy lùng của địch. Bài thơ được viết vào tháng 2/1941, chính trong quãng thời gian ấy.

2. Ý nghĩa nhan đề

  • Tức cảnh: nhìn cảnh trước mắt mà thành thơ. Thơ cổ có nhiều bài đặt tên theo lối này.
  • Pác Bó: theo tiếng Tày – Nùng nghĩa là “đầu nguồn”, tức nơi con suối bắt đầu chảy ra.
  • Cả nhan đề hé lộ rằng bài thơ đi từ cảnh sống thật nơi núi rừng Pác Bó, rồi mới chuyển sang cảm nghĩ của Bác về đời cách mạng.

3. Thể thơ, phương thức biểu đạt, bố cục

Yếu tố Nội dung
Thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 chữ), viết bằng tiếng Việt, gieo vần “ang” ở cuối câu 1, 2, 4 (hang – sàng – sang)
Phương thức biểu đạt chính Biểu cảm, có kết hợp tự sự và miêu tả
Bố cục Có 2 cách chia:
• Ba câu đầu kể sinh hoạt, làm việc; câu cuối là cảm nghĩ.
• Chia theo kết cấu tứ tuyệt: khai (câu 1), thừa (câu 2), chuyển (câu 3), hợp (câu 4).
Giọng điệu Vui, nhẹ, hóm hỉnh, thoải mái

4. Giá trị nội dung

Bài thơ cho thấy cuộc sống vật chất ở Pác Bó rất gian khổ, thiếu thốn. Qua đó hiện lên tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng. Với Bác, được làm cách mạng, được sống hoà hợp với thiên nhiên chính là niềm vui lớn.

5. Giá trị nghệ thuật

  • Thể tứ tuyệt ngắn gọn, hàm súc, vừa có nét cổ điển vừa mang tinh thần hiện đại.
  • Lời thơ giản dị, gần với lời nói hằng ngày. Giọng điệu đùa vui, hóm hỉnh.
  • Câu 1 dùng phép đối (sáng – tối, ra – vào). Câu 3 có từ láy gợi hình “chông chênh” và thế tương phản giữa điều kiện làm việc với tầm vóc công việc.
  • Bài thơ dồn sức nặng vào một nhãn tự: chữ “sang” ở cuối.

Đọc hiểu văn bản Tức cảnh Pác Bó

Câu 1: Nhịp sống đều đặn, hoà với thiên nhiên

Câu thơ ngắt nhịp 4/3, chia thành hai vế đối nhau. Thời gian đối nhau (sáng – tối), hoạt động đối nhau (ra – vào), không gian cũng đối nhau (bờ suối – hang). Nhờ phép đối ấy, ta thấy một nếp sống đều đặn, nhịp nhàng, ngày nào cũng như ngày nào.

Điều đáng chú ý là Bác kể chuyện “ra suối”, “vào hang” nhẹ nhàng như người đi làm rồi về nhà. Ở đây không có tiếng than vãn nào. Người như đã thành một phần của núi rừng, sống trong cái tư thế ung dung của người làm chủ hoàn cảnh.

Câu 2: Bữa ăn đạm bạc và chữ “vẫn sẵn sàng”

“Cháo bẹ, rau măng” là bữa ăn nghèo nàn, đạm bạc tới mức tối giản. Nhưng ba chữ “vẫn sẵn sàng” làm câu thơ có hai lớp nghĩa:

  • Nghĩa thực: thức ăn lúc nào cũng có sẵn, rừng không bao giờ hết ngô, hết măng. Lời kể có chút đùa vui, kiểu như “ở đây chẳng bao giờ thiếu ăn”.
  • Nghĩa sâu: chính con người luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đựng gian khổ, chẳng nề hà thiếu thốn để làm việc lớn.

Chữ “vẫn” cho thấy dù thiếu thốn kéo dài thì tinh thần của Bác cũng không thay đổi.

Câu 3: Hình ảnh người chiến sĩ trên bàn đá

Câu này là câu “chuyển” của bài tứ tuyệt, ý thơ đi từ sinh hoạt sang công việc. Câu thơ chứa một thế tương phản:

  • “Bàn đá chông chênh”: điều kiện làm việc tạm bợ, thô sơ, bấp bênh. Từ láy “chông chênh” còn gợi đến hoàn cảnh cách mạng lúc ấy, khi còn nhiều khó khăn, chưa vững vàng.
  • “Dịch sử Đảng”: công việc hệ trọng, gắn với việc đào tạo cán bộ và tương lai của cách mạng Việt Nam.

Đặt hai vế cạnh nhau, ta thấy hiện lên tư thế vững vàng của người chiến sĩ. Ngoại cảnh chông chênh nhưng ý chí thì không chông chênh chút nào. Câu thơ có dáng dấp một bức tạc tượng về người cộng sản giữa núi rừng.

Câu 4: Chữ “sang”, nhãn tự của bài thơ

Sau ba câu kể toàn chuyện thiếu thốn, câu cuối lại kết luận “Cuộc đời cách mạng thật là sang”. Thoạt nghe có vẻ ngược đời, và bài thơ hóm hỉnh chính ở chỗ ngược đời ấy. “Sang” ở đây không phải là giàu sang vật chất. Đó là:

  • cái sang của tinh thần: thanh thản, tự do, được sống giữa thiên nhiên trong lành;
  • cái sang của lí tưởng: được trở về Tổ quốc, trực tiếp làm việc cứu nước, cứu dân;
  • niềm tự hào khi biết đời mình có ý nghĩa.

Cái “sang” ấy khác hẳn thú lâm tuyền của các ẩn sĩ xưa. Người ẩn sĩ tìm đến núi rừng để lánh đời. Bác ở giữa núi rừng để làm cách mạng, để cứu đời. Đây chính là chỗ cổ điển và hiện đại gặp nhau trong bài thơ.

Sơ đồ tư duy bài Tức cảnh Pác Bó

Nếu em muốn có thêm phiên bản sơ đồ rút gọn để ôn nhanh, xem sơ đồ tư duy Tức cảnh Pác Bó.

Dàn ý phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó

Mở bài

  • Giới thiệu Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ đồng thời là nhà thơ có hồn thơ luôn lạc quan.
  • Giới thiệu bài thơ, được viết tháng 2/1941 tại Pác Bó, nói lên niềm vui của người chiến sĩ giữa gian khổ.

Thân bài

  1. Cuộc sống sinh hoạt (câu 1–2): phép đối, nhịp 4/3, nếp sống đều đặn, hoà hợp thiên nhiên. Bữa ăn đạm bạc, hai lớp nghĩa của “vẫn sẵn sàng”.
  2. Công việc cách mạng (câu 3): tương phản “bàn đá chông chênh” và “dịch sử Đảng”, tư thế vững vàng của người chiến sĩ.
  3. Cảm nghĩ về đời cách mạng (câu 4): chữ “sang” là nhãn tự, cái sang tinh thần và lí tưởng. So sánh với thú lâm tuyền của người xưa.
  4. Đánh giá nghệ thuật: tứ tuyệt giản dị, giọng hóm hỉnh, hài hoà giữa cổ điển và hiện đại.

Kết bài

  • Khẳng định giá trị của bài thơ: bài học về lối sống giản dị, lạc quan, sống có lí tưởng.
  • Liên hệ bản thân: biết giữ tinh thần tích cực khi gặp khó khăn trong học tập và cuộc sống.

Muốn đọc bài viết hoàn chỉnh, em tham khảo các bài phân tích Tức cảnh Pác Bó, các bài cảm nhận bài thơ và chuyên đề tinh thần lạc quan của Bác trong Tức cảnh Pác Bó. Nếu cần bài soạn đầy đủ, xem soạn bài Tức cảnh Pác Bó hoặc các mẫu tóm tắt ngắn gọn.

Mẹo nhớ nhanh và lỗi sai thường gặp

Mẹo nhớ “4 câu – 4 chữ khoá”

  • Câu 1, chữ “ra – vào”: nếp sống.
  • Câu 2, chữ “sẵn sàng”: tinh thần.
  • Câu 3, chữ “chông chênh”: hoàn cảnh làm việc.
  • Câu 4, chữ “sang”: cảm nghĩ, cũng là nhãn tự.

Lỗi sai hay gặp khi làm bài

  • Hiểu “sang” là sang trọng vật chất. Sai, vì cả ba câu đầu đều nói về sự thiếu thốn. “Sang” là cái giàu có về tinh thần.
  • Nhầm thể thơ thành thất ngôn bát cú. Bài chỉ có 4 câu nên là tứ tuyệt.
  • Cho rằng bài thơ viết bằng chữ Hán như Ngắm trăng, Đi đường. Thực ra Tức cảnh Pác Bó viết bằng tiếng Việt.
  • Ghi sai thời gian: bài thơ ra đời năm 1941, không phải giai đoạn Bác bị giam ở Quảng Tây (1942–1943).
  • Chỉ nói về sự gian khổ mà quên phân tích giọng hóm hỉnh, trong khi đây là nét đặc sắc làm nên cái hay của bài.

Câu hỏi luyện tập có đáp án

Câu 1. Chỉ ra phép đối trong câu thơ đầu và nêu tác dụng.

Đáp án: Câu thơ đối “sáng” với “tối”, “ra” với “vào”, “bờ suối” với “hang”. Tác dụng là làm nổi bật nếp sống đều đặn, nhịp nhàng, hoà hợp với thiên nhiên, đồng thời tạo giọng thơ thoải mái, ung dung.

Câu 2. Vì sao nói câu thơ thứ ba khắc hoạ “tư thế” của người chiến sĩ cách mạng?

Đáp án: Vì câu thơ đặt cạnh nhau hai thứ trái ngược. Một bên là điều kiện tạm bợ (“bàn đá chông chênh”), một bên là công việc hệ trọng (“dịch sử Đảng”). Hoàn cảnh bấp bênh nhưng người chiến sĩ vẫn vững vàng, chuyên tâm làm việc lớn. Câu thơ vì thế như một bức chân dung khắc tạc tư thế ấy.

Câu 3. Viết đoạn văn khoảng 5–7 câu nêu suy nghĩ của em về chữ “sang” trong bài thơ.

Gợi ý đáp án: Mở đoạn nêu chữ “sang” là nhãn tự. Thân đoạn giải thích cái sang về tinh thần và lí tưởng, đối lập với sự thiếu thốn vật chất ở ba câu đầu, và nhận xét giọng hóm hỉnh. Kết đoạn rút ra bài học: hạnh phúc không chỉ đến từ vật chất mà còn từ việc sống có mục đích.

Ôn thêm bằng trắc nghiệm Tức cảnh Pác Bó có đáp án. Sau bài này, em có thể học tiếp hai bài thơ khác của Bác là Ngắm trăng và Đi đường, rồi so sánh tinh thần lạc quan của Người qua từng hoàn cảnh.

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Tức cảnh Pác Bó được sáng tác khi nào?

Bài thơ ra đời tháng 2/1941, khi Bác vừa về nước, sống và làm việc trong hang Pác Bó (Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Tức cảnh Pác Bó thuộc thể thơ gì?

Bài thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 chữ), viết bằng tiếng Việt, gieo vần "ang" ở cuối câu 1, 2, 4.

Chữ "sang" trong câu cuối có nghĩa là gì?

"Sang" không phải là giàu sang vật chất. Đó là cái sang của tinh thần: niềm vui được sống hoà hợp với thiên nhiên, được làm cách mạng cứu nước. Đây là nhãn tự của bài thơ.

Bố cục bài Tức cảnh Pác Bó gồm mấy phần?

Thường chia làm 2 phần: ba câu đầu kể cảnh sinh hoạt, làm việc; câu cuối nêu cảm nghĩ về đời cách mạng. Cũng có thể chia theo kết cấu khai – thừa – chuyển – hợp.