Trả lời nhanh
Trưởng giả học làm sang là đoạn trích trong vở hài kịch cùng tên (5 hồi) của Mô-li-e, nhà viết kịch cổ điển Pháp thế kỉ XVII. Đoạn trích kể chuyện ông Giuốc-đanh, một người buôn dạ giàu có nhưng dốt nát, mặc bộ lễ phục ngược hoa, bị phó may và đám thợ phụ nịnh bằng các danh xưng ngày càng cao để moi tiền. Qua đó tác giả cười vào thói học đòi, sĩ diện rỗng tuếch.
I. Tác giả Mô-li-e
- Tên thật: Giăng Ba-ti-xtơ Pô-cơ-lanh (Jean-Baptiste Poquelin), sống từ năm 1622 đến năm 1673. Mô-li-e (Molière) là nghệ danh.
- Quê quán, gia đình: ông sinh ở Pa-ri trong một gia đình thợ làm đồ nội thất cho triều đình. Ông được học hành chu đáo, giỏi tiếng La-tinh và từng học luật.
- Con đường nghệ thuật: ông không nối nghiệp cha mà chọn nghề sân khấu. Năm 1643, ông cùng bạn bè lập đoàn kịch “Nhà hát danh tiếng” (Illustre Théâtre). Đoàn kịch thua lỗ, ông từng bị giam vì nợ, sau đó theo đoàn kịch rong đi diễn ở các tỉnh suốt nhiều năm.
- Vị trí: Mô-li-e vừa là diễn viên, vừa là đạo diễn, vừa là nhà viết kịch. Ông được xem là bậc thầy của hài kịch cổ điển Pháp và có ảnh hưởng lớn tới sân khấu châu Âu.
- Tác phẩm tiêu biểu: Gàn dở, Tác-tuýp, Đông Gioăng, Kẻ ghét đời, Lão hà tiện, Trưởng giả học làm sang, Bệnh tưởng (vở cuối cùng; ông lên cơn bệnh khi đang diễn vở này và qua đời ít lâu sau đó).
Phong cách: tiếng cười của Mô-li-e bắt nguồn từ việc quan sát xã hội. Ông chĩa mũi nhọn vào thói đạo đức giả, keo kiệt, học đòi, đồng thời giữ được nhịp hài kịch sinh động, gần gũi với khán giả bình dân.
II. Tìm hiểu chung về tác phẩm
1. Thể loại
Hài kịch (comédie). Nguyên bản tiếng Pháp là một vở “hài kịch – ba lê” có kết hợp nhạc và múa. Đây là lí do trong đoạn trích có cảnh thợ phụ “mặc áo theo nhịp nhạc” cho ông Giuốc-đanh.
2. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác
- Vở Trưởng giả học làm sang có 5 hồi, ra mắt năm 1670 trước vua Lu-i XIV. Lúc đó tầng lớp tư sản (trưởng giả) đang giàu lên ở Pháp, nhiều người ham danh vọng, muốn bắt chước lối sống quý tộc.
- Văn bản trong sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức (chủ đề những câu chuyện hài) được trích từ lớp V hồi II và lớp I, II hồi III của vở kịch.
3. Phương thức biểu đạt, ngôn ngữ
Phương thức biểu đạt chính là tự sự, nhưng câu chuyện không có người kể. Nó hiện ra hoàn toàn qua lời thoại (đối thoại, độc thoại) và chỉ dẫn sân khấu (lời in nghiêng trong ngoặc mô tả hành động, cử chỉ). Khi đọc kịch, các em cần chú ý cả hai loại lời này.
4. Nhân vật
| Nhân vật | Đặc điểm |
|---|---|
| Ông Giuốc-đanh | Con nhà buôn dạ, giàu có, dốt nát nhưng thèm làm quý tộc; dễ bị nịnh, vung tiền vì hư danh. |
| Phó may | Khéo mồm, láu cá, biết ăn bớt vải và lợi dụng tâm lí ham sang của khách. |
| Các thợ phụ | Hùa theo, tâng bốc bằng danh xưng để lấy tiền thưởng. |
| Ni-côn (người hầu gái) | Thẳng thắn, cười ngặt nghẽo trước bộ dạng lố bịch của chủ; là “tấm gương” phản chiếu sự lố lăng ấy. |
| Hai gia nhân (lính hầu) | Bị ông chủ bắt đi theo sau để khoe mẽ ngoài phố. |
5. Tóm tắt đoạn trích
Phó may mang bộ lễ phục mới đến nhà ông Giuốc-đanh. Ông chê đôi bít tất chật, đôi giày làm đau chân, rồi nhận ra áo may ngược hoa. Phó may lập tức bảo người quý phái đều mặc như thế, thế là ông lại hài lòng. Ông thấy áo của phó may may bằng chính loại vải mình đặt, phó may liền lảng sang chuyện mời ông mặc thử. Bốn thợ phụ vừa mặc áo cho ông theo nhịp nhạc vừa gọi ông là “ông lớn”, “cụ lớn”, rồi “đức ông”. Mỗi lần nghe một danh xưng cao hơn, ông lại thưởng thêm tiền.
Sang hồi III, ông Giuốc-đanh bắt hai gia nhân đi theo để ra phố khoe áo mới. Gặp chủ trong bộ dạng ấy, chị hầu Ni-côn cười không nhịn được. Ông dọa đánh, cấm cười, nhưng chị vẫn cười rũ rượi.
Các em có thể xem thêm nhiều bản tóm tắt dài ngắn khác nhau tại Tóm tắt Trưởng giả học làm sang.
6. Bố cục
- Phần 1 (lớp V hồi II): Ông Giuốc-đanh với phó may và các thợ phụ, gồm chuyện bộ lễ phục ngược hoa, chuyện ăn bớt vải và màn tâng bốc danh xưng.
- Phần 2 (lớp I, II hồi III): Ông Giuốc-đanh với gia nhân và chị hầu Ni-côn, gồm màn khoe áo và tràng cười của Ni-côn.
Xem phân tích kĩ hơn ở bài Bố cục bài Trưởng giả học làm sang.
III. Phân tích chi tiết đoạn trích
1. Màn bộ lễ phục ngược hoa: dốt nhưng sợ bị chê là quê
- Ông Giuốc-đanh chưa mất hẳn tỉnh táo. Ông vẫn thấy giày đau chân, bít tất chật, áo ngược hoa. Thế nhưng mọi lời phàn nàn đều bị phó may gạt đi rất dễ.
- Phó may chỉ cần một lí lẽ là đủ: người quý phái đều mặc thế. Ông Giuốc-đanh lập tức đổi ý, thậm chí còn tỏ ra khoái chí. Ông có thể chịu đau, chịu mặc trái mắt, miễn là được giống quý tộc.
- Như vậy, cái đáng cười không nằm ở chiếc áo mà ở con người: thẩm mĩ, cảm giác của chính mình bị ông gạt đi để chạy theo “mốt” của tầng lớp khác.
2. Chuyện ăn bớt vải: kịch tính đảo chiều
Khi ông Giuốc-đanh phát hiện áo của phó may may từ vải của mình, thế chủ động đã chuyển sang phía ông. Phó may không chối dài dòng mà khéo léo lảng sang chuyện khác, mời ông mặc thử áo. Hắn đánh trúng điểm yếu nhất của ông là khao khát được khoác lên mình bộ đồ sang trọng. Chỉ trong vài câu thoại, tình thế đã đảo ngược. Đây chính là sức hấp dẫn của xung đột kịch.
3. Màn tâng bốc danh xưng: nghệ thuật tăng cấp
Đây là cảnh gây cười mạnh nhất. Mỗi danh xưng cao hơn đi kèm một khoản thưởng lớn hơn. Ông Giuốc-đanh còn tự “đặt giá” rằng nếu được gọi tới mức “tôn ông” thì sẽ cho cả túi tiền. Kẻ nịnh thì tinh ranh, người nghe thì tự nguyện mở hầu bao.
- Danh xưng là thứ vô giá trị, chỉ là lời nói suông của mấy cậu thợ phụ. Thế mà ông Giuốc-đanh trả bằng tiền thật.
- Những lời độc thoại khi ông chuẩn bị thưởng cho thấy ông hiểu rõ mình đang “mua” danh xưng nhưng vẫn vui vẻ mua. Đó là đỉnh điểm của sự ngu ngốc tự nguyện.
4. Ông Giuốc-đanh và Ni-côn: tiếng cười “soi gương”
- Ông bắt gia nhân đi theo sau ra phố để mọi người thấy mình là người có kẻ hầu người hạ. Sang trọng với ông nghĩa là phô trương.
- Ni-côn cười không ngớt vì chị nhìn thấy sự thật: một người trưởng giả mặc áo ngược hoa, đi đứng điệu bộ mà tưởng mình quý tộc. Ông càng ra oai cấm cười, chị càng cười, và tiếng cười trên sân khấu cũng lan sang khán giả.
- Ni-côn đại diện cho lương tri bình dân. Nhờ chị, khán giả có một điểm tựa để cùng cười vào nhân vật chính.
5. Chân dung ông Giuốc-đanh
Ông Giuốc-đanh không độc ác. Ông đáng cười chứ không đáng ghét: ngây ngô, khoe khoang, ham danh, và trở thành “con mồi” cho đủ loại kẻ xu nịnh. Mô-li-e qua nhân vật này phê phán cả một lớp người thời đó, giàu tiền nhưng nghèo hiểu biết, coi bề ngoài và danh xưng là thước đo giá trị.
IV. Giá trị nội dung và nghệ thuật
1. Giá trị nội dung
- Khắc họa thành công nhân vật trưởng giả dốt nát mà học đòi làm sang, lố bịch và dễ bị lợi dụng.
- Phê phán thói sĩ diện, chạy theo hình thức, ưa nịnh. Đồng thời vạch mặt bọn xu nịnh, ăn bớt.
- Gửi bài học còn nguyên giá trị: giá trị con người nằm ở hiểu biết và phẩm chất, không nằm ở quần áo hay danh xưng.
2. Giá trị nghệ thuật
- Xung đột hài kịch rõ ràng: mâu thuẫn giữa bản chất (dốt, quê) và khát vọng bề ngoài (làm quý tộc).
- Thủ pháp tăng cấp trong chuỗi danh xưng và tiền thưởng, kết hợp phóng đại và tương phản.
- Lời thoại ngắn, tự nhiên, hợp tính cách từng nhân vật. Chỉ dẫn sân khấu giàu tính hành động, kết hợp nhạc, múa nên rất sinh động.
- Tình huống gây cười nối tiếp nhau (áo ngược hoa, ăn bớt vải, mua danh xưng, tràng cười của Ni-côn) khiến lớp kịch ngày càng hấp dẫn.
V. Mẹo nhớ nhanh và lỗi thường gặp
Mẹo nhớ “3 cái ngược”: áo ngược hoa, tiền chảy ngược (khách bị thợ lấy tiền), danh xưng ngược với thực chất (trưởng giả mà được gọi “đức ông”).
Lỗi sai hay gặp:
- Nhầm Mô-li-e là nhà văn thế kỉ XIX. Thực ra ông thuộc thế kỉ XVII, thời chủ nghĩa cổ điển Pháp.
- Cho rằng ông Giuốc-đanh hoàn toàn không biết gì. Ông vẫn nhận ra cái sai nhưng tự nguyện bỏ qua vì ham sang, và đó mới là chỗ đáng cười.
- Bỏ qua chỉ dẫn sân khấu khi phân tích. Nhiều tiếng cười nằm ở hành động: mặc áo theo nhịp nhạc, Ni-côn ôm bụng cười.
- Viết “Giuốc Đanh” thành hai tên riêng. Cách viết đúng là Giuốc-đanh (một tên phiên âm).
VI. Luyện tập có đáp án
Câu 1. Vì sao ông Giuốc-đanh chấp nhận mặc chiếc áo ngược hoa?
Đáp án: Phó may nói người quý phái đều mặc như vậy. Ông muốn giống quý tộc nên gạt bỏ nhận xét đúng của chính mình. Chi tiết này cho thấy tâm lí học đòi đã lấn át lí trí.
Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng của thủ pháp tăng cấp trong lớp V hồi II.
Đáp án: Các danh xưng tăng dần từ “ông lớn” lên “cụ lớn” rồi “đức ông”, tiền thưởng cũng tăng theo. Thủ pháp này đẩy tiếng cười lên cao trào, phơi bày sự háo danh của Giuốc-đanh và sự láu cá của đám thợ.
Câu 3. Viết đoạn văn khoảng 5–7 câu nêu bài học em rút ra từ văn bản.
Gợi ý: Không chạy theo hình thức hay danh xưng hão; tỉnh táo trước lời khen nịnh; muốn được tôn trọng thì phải trau dồi hiểu biết và phẩm chất. Có thể liên hệ với thói “sống ảo”, khoe đồ hiệu trên mạng xã hội hiện nay.
VII. Tài liệu học tiếp
- Soạn bài Trưởng giả học làm sang (Kết nối tri thức)
- Tác giả – tác phẩm: Chùm truyện cười dân gian Việt Nam
- Tác giả – tác phẩm: Chùm ca dao trào phúng
- Tác giả – tác phẩm: Giá không có ruồi
- Tác giả – tác phẩm: Vịnh cây vông
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 8 – Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 – Kết nối tri thức
- Văn mẫu 8 – Kết nối tri thức
Cùng chuyên đề: Bài nằm trong mục lục Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống lớp 8: dàn ý + 5 bài mẫu. Bài trước: Soạn văn 8 Chân trời sáng tạo: mục lục soạn bài đủ Tập 1 và Tập 2. Bài sau: 8 mẫu tóm tắt Lặng lẽ Sa Pa ngắn gọn, đầy đủ ý – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức.
Câu hỏi thường gặp
Trưởng giả học làm sang thuộc thể loại gì?
Văn bản thuộc thể loại hài kịch. Nguyên tác là vở hài kịch – ba lê 5 hồi của Mô-li-e, có kết hợp âm nhạc và múa.
Đoạn trích Trưởng giả học làm sang được lấy từ đâu?
Đoạn trích lấy từ lớp V hồi II (ông Giuốc-đanh và phó may) và lớp I, II hồi III (ông Giuốc-đanh với gia nhân và chị hầu Ni-côn) của vở kịch cùng tên.
Nghệ thuật nổi bật nhất của văn bản là gì?
Đó là thủ pháp tăng cấp trong chuỗi danh xưng 'ông lớn', 'cụ lớn', 'đức ông' kèm tiền thưởng tăng dần, cùng với lời thoại sinh động và tình huống gây cười nối tiếp nhau.
Văn bản phê phán điều gì?
Văn bản phê phán thói học đòi, sĩ diện hão, ưa nịnh của tầng lớp trưởng giả giàu mà dốt, đồng thời vạch trần bọn xu nịnh lợi dụng để kiếm lời.