Trả lời nhanh
“Đi đường” (Tẩu lộ) là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán của Hồ Chí Minh, rút từ tập Nhật ký trong tù. Từ chuyện đi đường núi gian nan, bài thơ nêu bài học sâu sắc: vượt qua hết thử thách này đến thử thách khác thì sẽ đến đỉnh cao, thu cả non sông vào tầm mắt. Đó cũng là tinh thần lạc quan, kiên cường của người chiến sĩ cách mạng.
1. Tác giả Hồ Chí Minh – những điều cần nhớ
- Hồ Chí Minh (1890 – 1969) sinh ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
- Người còn là nhà văn, nhà thơ lớn. Di sản văn chương gồm văn chính luận (Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến…), truyện và kí (Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành…), thơ ca (Nhật ký trong tù, thơ kháng chiến…).
- Thơ của Người thường vừa mang vẻ đẹp cổ điển, hàm súc, vừa có tinh thần hiện đại, chất thép và chất tình hoà quyện.
2. Tập thơ Nhật ký trong tù và hoàn cảnh ra đời bài thơ
Tháng 8 năm 1942, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc để tìm sự giúp đỡ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ ở Quảng Tây và bị giam hơn một năm, bị giải qua nhiều nhà lao của nhiều huyện. Trong hoàn cảnh ấy, Người viết tập thơ chữ Hán Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) gồm 133 bài, chủ yếu là thơ thất ngôn tứ tuyệt.
“Đi đường” được viết trong những chặng bị giải đi từ nhà lao này sang nhà lao khác. Người tù phải đi bộ đường núi, tay bị xiềng, dưới sự canh giữ của lính. Nhưng từ chuyện đi đường cụ thể, nhà thơ đã nâng lên thành suy ngẫm có tầm khái quát về đường đời, đường cách mạng.
3. Văn bản: phiên âm và dịch thơ
Phiên âm (Tẩu lộ):
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan,
Trùng san chi ngoại hựu trùng san;
Trùng san đăng đáo cao phong hậu,
Vạn lý dư đồ cố miện gian.
Dịch thơ (Nam Trân):
Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Chú thích nhanh: tẩu lộ = đi đường; tài tri = mới biết; nan = khó khăn; trùng san = núi non trùng điệp; chi ngoại = ở bên ngoài; hựu = lại; cao phong = đỉnh cao; vạn lý dư đồ = bản đồ muôn dặm, tức cảnh non sông rộng lớn; cố miện = ngoảnh nhìn.
4. Bố cục và thể thơ
- Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), gieo vần ở các chữ cuối câu 1, 2, 4 (nan – san – gian).
- Bố cục theo kết cấu khai – thừa – chuyển – hợp:
- Hai câu đầu: nỗi gian lao của người đi đường – hết núi này đến núi khác.
- Hai câu sau: khi lên đến đỉnh cao, người đi được đền đáp bằng tầm nhìn bao quát non sông.
5. Phân tích chi tiết từng câu
Câu 1 – “Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan”
Cụm “tẩu lộ” được lặp lại hai lần trong một câu thơ, nhấn mạnh việc đi đường. Chữ “tài tri” (mới biết) cho thấy đây là điều rút ra từ trải nghiệm thực tế: chưa đi thì chưa hiểu, đã đi rồi mới thấm cái khó. Bản dịch dùng “gian lao” thay cho “nan” nên nghĩa mở rộng hơn: không chỉ khó đi mà là gian khổ, vất vả. Giọng thơ bình thản, không than thở.
Câu 2 – “Trùng san chi ngoại hựu trùng san”
Hình ảnh núi non điệp trùng hiện lên qua điệp từ “trùng san” và chữ “hựu” (lại). Ngoài dãy núi này vẫn là dãy núi khác, đường đi như kéo dài vô tận. Câu thơ vừa tả thực chặng đường núi hiểm trở, vừa gợi ý thử thách trong đời nối tiếp nhau, vượt xong khó khăn này lại gặp khó khăn khác. Bản dịch “núi cao rồi lại núi cao trập trùng” giữ được nhịp điệp trùng ấy.
Câu 3 – “Trùng san đăng đáo cao phong hậu”
“Trùng san” lại xuất hiện lần nữa, nối tiếp câu trước theo lối điệp liên hoàn, tạo cảm giác bước chân leo từng đợt núi. Câu thơ chuyển ý: “đăng đáo cao phong” – leo đến đỉnh cao. Đây là bước ngoặt: từ chỗ chỉ thấy núi chồng núi, người đi đã chiến thắng chặng đường. Chữ “hậu” (sau khi) cho thấy kết quả đến sau một quá trình bền bỉ.
Câu 4 – “Vạn lý dư đồ cố miện gian”
Đứng trên đỉnh núi, nhà thơ thu vào tầm mắt “vạn lý dư đồ” – cả giang sơn muôn dặm trải ra như một tấm bản đồ. Hình ảnh rộng lớn, khoáng đạt, thể hiện niềm vui, sự thanh thản và tầm nhìn xa của người chiến thắng gian khó. Bản dịch “muôn trùng nước non” dịch đúng ý, tuy hình ảnh “bản đồ” trong nguyên văn không còn rõ.
6. Nội dung và ý nghĩa
- Nghĩa thực: con đường người tù bị giải đi qua núi non hiểm trở, đi mãi mới thấy được cảnh rộng mở từ đỉnh núi.
- Nghĩa tượng trưng: con đường đời, con đường cách mạng đầy chông gai. Gian khổ là điều tất yếu, nhưng kiên trì vượt qua thì sẽ đạt thắng lợi. Đỉnh cao tượng trưng cho thành công, “vạn lý dư đồ” gợi tương lai tươi sáng của đất nước.
- Con người tác giả: bản lĩnh vững vàng, ý chí không lùi bước, phong thái ung dung, lạc quan trong cảnh tù đày.
- Bài học cho học sinh: muốn đạt kết quả tốt trong học tập và cuộc sống phải kiên trì, không nản chí trước khó khăn.
7. Nghệ thuật đặc sắc
| Đặc điểm | Biểu hiện | Tác dụng |
|---|---|---|
| Điệp từ, điệp liên hoàn | “tẩu lộ” (câu 1), “trùng san” (câu 2, 3) | Tạo nhịp điệu của bước chân leo núi, nhấn mạnh sự trùng điệp của gian khó |
| Kết cấu bốn phần | Khai – thừa – chuyển – hợp, câu 3 là bước chuyển | Mạch ý đi từ khó khăn đến chiến thắng, rất chặt chẽ |
| Nghĩa kép | Tả đi đường thật, hàm ý đường đời | Từ việc nhỏ khái quát thành triết lí sâu sắc |
| Giọng thơ | Bình dị, tự nhiên, cô đọng | Thể hiện phong thái ung dung, lạc quan |
| Đối lập | Gian lao ở hai câu đầu – niềm vui ở hai câu cuối | Làm nổi bật giá trị của sự kiên trì |
8. Mẹo nhớ bài nhanh
- Nhớ ba chữ “núi – núi – núi”: câu 2 và 3 đều có “trùng san”, câu 4 là phần thưởng sau khi vượt núi.
- Nhớ mạch cảm xúc theo sơ đồ: khó → khó hơn → lên đỉnh → thấy cả non sông.
- Nhớ ý nghĩa bằng một câu: “Gian lao rồi sẽ qua, kiên trì sẽ thấy đỉnh cao.”
9. So sánh với bài “Ngắm trăng”
Cả hai bài đều trích từ Nhật ký trong tù và đều thể hiện tinh thần vượt lên hoàn cảnh. “Ngắm trăng” tả tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nghệ sĩ khi ở trong ngục; còn “Đi đường” thiên về suy ngẫm, triết lí về con đường gian nan và thành quả. Một bài nghiêng về cảm xúc trước thiên nhiên, một bài nghiêng về bài học nhân sinh.
10. Những lỗi sai thường gặp khi làm bài
- Nhầm “Đi đường” chỉ là bài thơ tả cảnh núi non. Thực ra bài có hai tầng nghĩa, nghĩa tượng trưng mới là trọng tâm.
- Bỏ qua vai trò của câu thứ ba, trong khi đó là câu chuyển ý quan trọng.
- Chỉ nêu “gian khổ” mà quên niềm vui, sự lạc quan ở hai câu cuối.
- Viết sai thể thơ: bài là thất ngôn tứ tuyệt, không phải ngũ ngôn hay lục bát (lục bát chỉ là thể của bản dịch).
- Nhầm bản dịch thơ với nguyên tác. Khi phân tích nên bám nguyên tác phiên âm rồi mới dẫn bản dịch.
11. Đoạn văn mẫu
Đoạn 1: Phân tích hai câu đầu
Hai câu đầu của bài thơ “Đi đường” nói về nỗi gian lao của người đi đường. Câu thơ “Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan” có hai lần nhắc đến “tẩu lộ”, với chữ “tài tri” cho thấy đây là điều tác giả rút ra từ chính trải nghiệm của mình. Sang câu thứ hai, điệp từ “trùng san” và chữ “hựu” gợi những dãy núi nối tiếp nhau, hết núi này lại đến núi khác. Qua đó, Bác không chỉ kể chuyện đi đường núi mà còn nói đến những thử thách liên tiếp trên đường đời. Giọng thơ bình thản cho thấy Người chấp nhận gian khổ như một lẽ tự nhiên.
Đoạn 2: Ý nghĩa tượng trưng của bài thơ
Bài thơ “Đi đường” sâu sắc ở chỗ từ việc đi đường cụ thể đã gợi ra một bài học về cuộc sống. Núi non trùng điệp tượng trưng cho khó khăn, thử thách; đỉnh cao tượng trưng cho thành công; còn cảnh “vạn lý dư đồ” mở ra trước mắt gợi tương lai rộng lớn của đất nước. Bài học rút ra là chỉ khi kiên trì vượt qua gian khổ ta mới đạt được thành quả. Đặt trong hoàn cảnh bị giam cầm, câu thơ càng cho thấy bản lĩnh và niềm tin của người chiến sĩ cách mạng.
12. Câu hỏi ôn tập kèm gợi ý đáp án
- Bài thơ thuộc thể thơ nào? Gieo vần ra sao?
Thất ngôn tứ tuyệt; vần ở cuối các câu 1, 2, 4 (nan – san – gian). - Điệp từ nào được dùng nhiều nhất? Tác dụng?
“Trùng san” (hai lần ở câu 2 và 3) và “tẩu lộ” (hai lần ở câu 1). Nhấn mạnh sự trùng điệp của gian khó và tạo nhịp điệu bước đi. - Câu thơ nào là bước chuyển ý?
Câu thứ ba: từ gian lao chuyển sang chiến thắng khi lên đến đỉnh cao. - Hình ảnh “vạn lý dư đồ” thể hiện điều gì?
Tầm nhìn bao quát non sông rộng lớn, niềm vui khi vượt gian khó, và hơn nữa là niềm tin vào tương lai. - Viết đoạn văn 5–7 câu nêu bài học em rút ra từ bài thơ.
Gợi ý: nêu bài học kiên trì, dẫn câu “Trùng san đăng đáo cao phong hậu”, liên hệ một khó khăn trong học tập (ví dụ một môn học khó) và cách em vượt qua.
13. Dàn ý ngắn gọn để phân tích bài thơ
- Mở bài: giới thiệu Hồ Chí Minh, tập Nhật ký trong tù và bài “Đi đường”.
- Thân bài:
- Hoàn cảnh sáng tác, thể thơ.
- Hai câu đầu: gian lao của người đi đường, điệp từ, nghĩa thực và nghĩa tượng trưng.
- Hai câu cuối: lên đỉnh cao, thu vào tầm mắt non sông, niềm vui và niềm tin.
- Nghệ thuật: điệp, kết cấu, nghĩa kép, giọng thơ.
- Kết bài: khẳng định giá trị bài thơ, bài học về ý chí và sự kiên trì, liên hệ bản thân.
Cùng chuyên đề: Bài nằm trong mục lục Tức cảnh Pác Bó – Tác giả, tác phẩm, đọc hiểu, sơ đồ tư duy Ngữ văn 8. Bài trước: Ngắm trăng (Hồ Chí Minh): tác giả, tác phẩm, nội dung và nghệ thuật. Bài sau: Soạn văn 8 Chân trời sáng tạo: mục lục soạn bài đủ Tập 1 và Tập 2.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Đi đường được trích từ tác phẩm nào?
Bài thơ được trích từ tập Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) của Hồ Chí Minh, viết bằng chữ Hán trong thời gian Người bị giam ở Trung Quốc.
Bài thơ Đi đường viết theo thể thơ gì?
Nguyên tác chữ Hán viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ). Bản dịch thơ của Nam Trân viết theo thể lục bát.
Ý nghĩa sâu xa của bài thơ Đi đường là gì?
Bài thơ nêu bài học rằng đường đời, đường cách mạng đầy gian nan nhưng nếu kiên trì vượt qua thì sẽ đến thành công và có tầm nhìn rộng mở. Đồng thời bài thơ cho thấy bản lĩnh, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh.
Câu thơ nào là điểm chuyển ý trong bài thơ?
Câu thứ ba, Trùng san đăng đáo cao phong hậu, là câu chuyển ý: từ cảnh núi non gian khổ ở hai câu đầu chuyển sang khoảnh khắc lên tới đỉnh cao và niềm vui ở câu cuối.