Soạn bài Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian – Văn 10 KNTT

Trả lời nhanh

Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian (kể cả một lễ hội dân gian) gồm 4 bước: chuẩn bị (rà soát tư liệu, chốt tên đề tài), tìm ý và lập đề cương, viết theo văn phong khoa học, chỉnh sửa và hoàn thiện. Bài báo cáo có bốn phần: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề, Kết luận và Tài liệu tham khảo. Riêng với lễ hội, cần chỉ ra mối quan hệ giữa diễn trình lễ hội và các tác phẩm dân gian gắn với nó.

1. Báo cáo nghiên cứu văn học dân gian là gì?

Đây là văn bản trình bày kết quả của một quá trình tìm hiểu có phương pháp về một hiện tượng văn học dân gian: một truyện cổ, một bài hoặc một chùm ca dao, một thể loại, hay những tác phẩm dân gian gắn với một lễ hội. Báo cáo khác bài nghị luận văn học ở chỗ người viết phải dựa vào tư liệu có nguồn gốc rõ ràng như bản kể, dị bản, ý kiến của nhà nghiên cứu, ghi chép điền dã. Không thể chỉ viết theo cảm nhận cá nhân.

Bài này là bước cuối của chuyên đề. Trước khi viết, các em nên xem lại Tri thức tổng quát và Tập nghiên cứu. Ở bước tập nghiên cứu, các em đã chọn đề tài và lập hồ sơ tư liệu, giờ chỉ cần dùng lại.

2. Quy trình 4 bước viết báo cáo

  1. Chuẩn bị: rà soát hồ sơ tư liệu, kiểm tra lại văn bản tác phẩm, đánh dấu đoạn cần trích dẫn, diễn giải hoặc tóm lược. Đặt tên đề tài thật chính xác và giới hạn rõ phạm vi.
  2. Tìm ý, lập đề cương: tự đặt hệ thống câu hỏi cho đối tượng (xem mục 3), rồi sắp các ý thành luận điểm.
  3. Viết: triển khai đề cương thành các đoạn văn có liên kết. Đặt sơ đồ, ảnh, bảng đúng vị trí, ghi nguồn trích dẫn và đưa phụ lục (nếu có) xuống cuối bài.
  4. Chỉnh sửa, hoàn thiện: đối chiếu bài với đề cương, kiểm tra xem phát hiện riêng đã rõ chưa, trích dẫn có đúng quy cách không, chính tả và câu chữ đã ổn chưa.

3. Cách triển khai theo từng loại đề tài

3.1. Nghiên cứu một truyện cổ dân gian

Các câu hỏi tìm ý nên xoay quanh những điểm sau:

  • Vì sao chọn truyện này? Truyện lấy từ nguồn nào (tuyển tập đã in hay lời kể của người dân)?
  • Truyện có bao nhiêu bản kể, các bản khác nhau ở đâu, và vì sao em chọn bản này làm bản chính?
  • Truyện thuộc thể loại nào (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích…) và có dấu hiệu thể loại nào?
  • Nhân vật chính thuộc kiểu nhân vật nào? Qua nhân vật, tác giả dân gian muốn gửi gắm điều gì?
  • Truyện có những nét nghệ thuật đặc sắc nào? Có thể so sánh với những truyện cùng loại nào?
  • Ngày nay truyện có được “tái sinh” trên sân khấu, phim ảnh hay trong văn học không? Điều đó cho thấy gì?

3.2. Nghiên cứu một bài hoặc một chùm ca dao

  • Bài ca dao có vị trí thế nào trong đời sống tinh thần của người bình dân? Xếp vào loại nào (theo chủ đề, hình tượng, kết cấu)?
  • Đã có những nghiên cứu nào về bài ca dao này, và còn khía cạnh nào chưa được khai thác?
  • Bài ca dao từng được hát trong hoàn cảnh nào (hát đối đáp, hát ru, hát lúc lao động)?
  • Có những dị bản nào, và các dị bản khác nhau cho thấy điều gì?
  • Đặt bài ca dao cạnh những bài cùng mô típ (ví dụ các bài mở đầu bằng “Thân em…”) thì phát hiện ra điều gì mới?

3.3. Nghiên cứu về một lễ hội dân gian

Nhiều em chọn đề tài này nhất vì có thể đi thực tế. Cần nhớ rằng đây vẫn là báo cáo văn học dân gian. Trọng tâm không phải là tả cảnh hội cho đẹp mà là làm rõ những tác phẩm dân gian (truyền thuyết, lời hát, câu đố, trò diễn) sống trong lễ hội như thế nào.

  • Lễ hội diễn ra ở đâu, vào thời gian nào, thờ ai? Truyền thuyết hoặc sự tích nào gắn với lễ hội?
  • Diễn trình lễ hội gồm phần lễ và phần hội ra sao? Nghi thức nào “diễn lại” chi tiết của truyền thuyết?
  • Trong lễ hội có những thể loại dân gian nào được trình diễn (hát, chèo, múa, trò chơi có lời)?
  • Người dân địa phương hiểu và kể về lễ hội ra sao? Lời kể của họ có gì khác với bản in trong sách?
  • Lễ hội hôm nay thay đổi gì so với trước? Có những giá trị nào cần bảo tồn và những biến tướng nào cần tránh?

Phương pháp nên dùng: quan sát trực tiếp, phỏng vấn người cao tuổi hoặc thủ từ, chụp ảnh hay ghi âm (phải xin phép), rồi đối chiếu với tài liệu đã in. Mỗi lời kể thu được cần ghi rõ người kể, tuổi, nơi ở và ngày ghi.

4. Dàn ý chung của một bản báo cáo

Phần Nội dung cần có
Đặt vấn đề Lí do chọn đề tài; xuất xứ đối tượng; mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Giải quyết vấn đề Hệ thống luận điểm; so sánh bản kể hoặc dị bản; điểm lại các nhận định đã có; phân tích; đánh giá sức sống của đối tượng hôm nay
Kết luận Khẳng định giá trị; nêu những vấn đề cần nghiên cứu tiếp
Tài liệu tham khảo Xếp theo trật tự chữ cái tên tác giả: Tác giả (năm xuất bản), Tên tài liệu, Nhà xuất bản, Nơi xuất bản
Phụ lục (nếu có) Ảnh, biên bản phỏng vấn, văn bản các dị bản

5. Gợi ý trả lời câu hỏi đọc văn bản mẫu

Văn bản mẫu trong sách nghiên cứu về một bài ca dao. Các câu hỏi đi kèm giúp em nhận ra “chất nghiên cứu” của bài viết:

  • Câu 1: Màu sắc nghiên cứu qua những nhận xét ban đầu. Ngay từ đầu, người viết đã đặt bài ca dao vào một hệ thống và nêu giả thuyết cần kiểm chứng. Đó không phải cảm xúc chung chung.
  • Câu 2: Ý nghĩa của việc so sánh các dị bản. Ca dao được truyền miệng nên có nhiều dị bản. So sánh dị bản giúp tìm ra phần ổn định, tức là cốt lõi tư tưởng, và phần biến đổi theo vùng miền, người hát.
  • Câu 3: Ý nghĩa của việc đối thoại với ý kiến khác. Đối thoại cho thấy người viết đã nắm được các nghiên cứu trước, đồng thời làm nổi bật đóng góp riêng của mình và tăng sức thuyết phục.
  • Câu 4: Đặt bài ca dao vào những tương quan khác nhau. Khi so với bài cùng mô típ, cùng thể loại hay cùng hoàn cảnh diễn xướng, những tầng nghĩa mà đọc riêng một bài khó thấy sẽ lộ ra.
  • Câu 5: Tính nghiên cứu qua phần đánh giá tổng hợp. Kết luận được rút ra từ các phân tích phía trước và nhìn tác phẩm từ nhiều phương diện như nội dung, nghệ thuật, vị trí trong kho tàng ca dao.

6. Bài báo cáo mẫu 1: Hội Gióng – nơi truyền thuyết được “diễn lại”

Bài mẫu dưới đây là bản rút gọn để các em tham khảo cách triển khai. Khi làm bài thật, cần bổ sung số liệu điền dã và tài liệu mà chính em đã thu thập.

Tên đề tài: Mối quan hệ giữa truyền thuyết Thánh Gióng và diễn trình Hội Gióng ở đền Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội).

I. Đặt vấn đề. Truyền thuyết Thánh Gióng quen thuộc với học sinh từ những năm tiểu học. Thế nhưng ít người để ý rằng câu chuyện ấy không chỉ nằm trên trang sách mà còn được cộng đồng “diễn lại” mỗi năm trong Hội Gióng. Năm 2010, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Báo cáo này tìm hiểu xem lễ hội đã lưu giữ và làm phong phú truyền thuyết như thế nào. Phương pháp sử dụng gồm đọc tài liệu, đối chiếu bản kể và quan sát qua tư liệu ghi hình lễ hội.

II. Giải quyết vấn đề.

Luận điểm 1: Lễ hội là “văn bản thứ hai” của truyền thuyết. Hội chính ở Phù Đổng diễn ra vào khoảng mùng 9 tháng Tư âm lịch, tương truyền là ngày Gióng thắng giặc Ân. Các nghi thức chính như rước, khám đường, đánh trận rồi mừng chiến thắng đi theo đúng mạch truyện: chuẩn bị, xuất quân, giao chiến, thắng lợi. Người dân không kể lại câu chuyện bằng lời. Họ tái hiện nó bằng cờ, chiêng trống, đội hình và vai diễn.

Luận điểm 2: Lễ hội bổ sung những chi tiết mà bản kể ngắn không có. Truyện in trong sách thường dừng ở hình ảnh Gióng bay về trời. Lễ hội thì có thêm nhiều nhân vật phụ và nhiều tầng biểu tượng, chẳng hạn các vai tướng giặc, các vai nữ tướng, động tác múa cờ tượng trưng cho trận đánh. Điều này cho thấy một đặc trưng của văn học dân gian là tính nguyên hợp: lời kể, trò diễn, âm nhạc và tín ngưỡng hòa vào nhau.

Luận điểm 3: So sánh với hội đền Sóc. Hội Gióng ở đền Sóc (Sóc Sơn) diễn ra vào tháng Giêng, gắn với nơi tương truyền Gióng bay về trời. Nét đặc sắc là lễ dâng hoa tre, sau đó người dự hội xin lộc hoa tre mang về. Cùng một truyền thuyết nhưng mỗi địa phương nhấn vào một đoạn khác: Phù Đổng gắn với nơi Gióng sinh ra và trận đánh, Sóc gắn với sự hóa thân. Có thể xem đây là một dạng “dị bản” của truyền thuyết được thể hiện bằng nghi lễ.

Luận điểm 4: Sức sống hôm nay. Lễ hội vẫn được duy trì nhờ cộng đồng làng truyền dạy cho nhau. Tuy vậy, cũng cần cảnh giác với hiện tượng thương mại hóa và chen lấn giành lộc, vì chúng làm mờ ý nghĩa tôn vinh tinh thần giữ nước.

III. Kết luận. Hội Gióng cho thấy truyền thuyết không phải một văn bản “đóng”. Nó vẫn đang sống trong sinh hoạt cộng đồng. Một hướng có thể nghiên cứu tiếp là ghi chép lời kể của người cao tuổi ở Phù Đổng để so với các bản in.

Tài liệu tham khảo: liệt kê theo đúng quy cách những sách, bài báo, phim tư liệu em thực sự đã dùng.

7. Bài báo cáo mẫu 2 (dạng đề cương): Giỗ Tổ Hùng Vương và các truyền thuyết thời Hùng Vương

Bài mẫu này nhìn từ một góc khác. Thay vì một truyện, người viết khảo sát một nhóm truyền thuyết cùng quy tụ về một lễ hội.

  • Đặt vấn đề: Giỗ Tổ được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Ba âm lịch tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ). Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO ghi danh năm 2012. Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là các truyền thuyết nào đã góp phần tạo nên ý nghĩa của lễ hội.
  • Luận điểm 1: Truyện Con Rồng cháu Tiên là nền tảng cho ý thức “đồng bào”, tức cùng một bọc sinh ra, nên lễ hội mang tính quốc lễ, hướng về cội nguồn chung.
  • Luận điểm 2: Sự tích bánh chưng, bánh giầy gắn với tục dâng lễ vật. Các cuộc thi gói, nấu bánh trong phần hội làm truyền thuyết hiện ra thành hành động cụ thể.
  • Luận điểm 3: So với Hội Gióng (một anh hùng, một làng), Giỗ Tổ hướng tới cả cộng đồng dân tộc. Đó là sự khác biệt giữa lễ hội làng và lễ hội mang tầm quốc gia.
  • Kết luận: Truyền thuyết giữ vai trò “giải thích” cho nghi lễ, còn nghi lễ giúp truyền thuyết được nhắc lại qua nhiều thế hệ. Hướng nghiên cứu tiếp có thể là sự tích các làng quanh Đền Hùng.

8. Lỗi thường gặp và mẹo khắc phục

  • Biến báo cáo thành bài tả lễ hội hoặc bài cảm nghĩ. Mẹo: mỗi đoạn phải trả lời được câu hỏi “chi tiết này cho thấy gì về văn học dân gian?”.
  • Chép thông tin mà không ghi nguồn. Cứ trích ý của ai là ghi chú ngay, không để dồn đến cuối bài.
  • Chọn đề tài quá rộng, kiểu “Lễ hội dân gian Việt Nam”. Nên thu hẹp lại thành một lễ hội và một khía cạnh.
  • Thiếu phần so sánh. Không so sánh bản kể, dị bản hay lễ hội cùng loại thì báo cáo dễ chỉ còn là phần mô tả.
  • Kết luận lặp lại phần mở đầu. Kết luận phải tổng hợp phát hiện và chỉ ra hướng nghiên cứu tiếp.

Mẹo nhớ quy trình: “Rà – Hỏi – Viết – Soát”. Rà tư liệu, Hỏi để tìm ý, Viết theo đề cương, Soát lại theo tiêu chí.

9. Luyện tập

  1. Đề tài “Lễ hội ở quê em” đã đạt yêu cầu chưa? Hãy sửa lại.
    Đáp án: Chưa đạt, vì đề tài quá rộng và chưa thấy vấn đề văn học dân gian. Có thể sửa thành: “Lời hát trong lễ hội X ở xã Y và mối liên hệ với sự tích vị thần được thờ”.
  2. Khi phỏng vấn một cụ cao tuổi về sự tích lễ hội, em cần ghi lại những thông tin gì?
    Đáp án: Họ tên (hoặc kí hiệu nếu cụ không muốn nêu tên), tuổi, nơi ở, thời gian và địa điểm phỏng vấn, nguyên văn lời kể. Cần xin phép trước khi ghi âm. Biên bản phỏng vấn đưa vào phần phụ lục.
  3. Vì sao cùng là truyền thuyết Thánh Gióng mà hội Phù Đổng và hội Sóc lại có nghi thức khác nhau?
    Đáp án: Mỗi nơi gắn với một chặng khác nhau trong cuộc đời nhân vật (nơi sinh, nơi đánh giặc, nơi hóa thân). Văn học dân gian lại luôn có tính dị bản và mang dấu ấn địa phương.

Muốn ôn các bài khác trong chuyên đề, các em xem Giải Chuyên đề Ngữ văn 10 – Kết nối tri thức hoặc Soạn văn 10 – Kết nối tri thức.

Câu hỏi thường gặp

Báo cáo nghiên cứu về một lễ hội dân gian có bắt buộc phải đi thực tế không?

Không bắt buộc, nhưng nên đi nếu có điều kiện. Khi không đi được, em có thể dùng sách, bài báo, phim tư liệu về lễ hội, miễn là ghi đủ nguồn. Tư liệu điền dã như ảnh hay lời phỏng vấn sẽ làm báo cáo có giá trị riêng hơn.

Báo cáo nghiên cứu khác bài văn nghị luận ở điểm nào?

Báo cáo phải dựa vào tư liệu có nguồn gốc rõ ràng, có so sánh bản kể hoặc dị bản, có đối thoại với ý kiến đã có, có phần tài liệu tham khảo và phụ lục. Bài nghị luận chủ yếu dựa vào lập luận và cảm nhận của người viết.

Một bài báo cáo gồm mấy phần?

Gồm bốn phần chính: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề, Kết luận và Tài liệu tham khảo. Bài có thể thêm phụ lục chứa ảnh, biên bản phỏng vấn hoặc văn bản các dị bản.

Nên chọn lễ hội nào để viết báo cáo?

Nên chọn lễ hội gắn với một truyền thuyết hoặc có các hình thức diễn xướng dân gian, ví dụ Hội Gióng, Giỗ Tổ Hùng Vương hay lễ hội ở địa phương em. Đề tài nên thu hẹp vào một khía cạnh cụ thể.