Trả lời nhanh
Viết bài phân tích bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan, em đi theo bố cục đề – thực – luận – kết của thể thất ngôn bát cú Đường luật. Bốn câu đầu tả cảnh chiều tà với ánh sáng nhạt dần, âm thanh vọng xa, con người lần lượt về nhà. Bốn câu sau là bước chân vội của người khách xa quê và nỗi nhớ nhà không biết kể cùng ai. Bài thơ nổi bật ở phép đối chỉnh, nhiều từ Hán Việt, điển tích “Chương Đài” và lối tả cảnh ngụ tình.
Những điều cần nắm trước khi phân tích
| Nội dung | Ghi nhớ |
|---|---|
| Tác giả | Bà Huyện Thanh Quan, tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, quê làng Nghi Tàm gần Hồ Tây (Hà Nội ngày nay). Gọi là “Bà Huyện Thanh Quan” vì chồng bà từng làm tri huyện Thanh Quan. |
| Phong cách | Thơ Nôm Đường luật trang nhã, dùng nhiều từ Hán Việt, giọng buồn man mác, hay tả cảnh chiều tà để gửi tâm trạng. |
| Hoàn cảnh | Nhiều ý kiến cho rằng bài thơ được viết khi bà rời quê vào kinh đô Huế làm việc trong cung, sống xa gia đình. |
| Thể thơ | Thất ngôn bát cú Đường luật, gieo vần bằng “ôn” (hôn – dồn – thôn – dồn – ôn). |
| Bố cục | Đề (câu 1–2), thực (câu 3–4), luận (câu 5–6), kết (câu 7–8). Cũng có thể chia làm hai phần: 4 câu đầu tả cảnh, 4 câu sau tả tình. |
| Chủ đề | Nỗi nhớ nhà, nhớ người thân da diết và nỗi cô đơn của người lữ khách giữa buổi chiều tà. |
Văn bản bài thơ và chú thích từ khó
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
Câu 5 có bản chép là “Ngàn mây gió cuốn”. Khi làm bài, em chép theo văn bản trong sách đang học.
- Bảng lảng: lờ mờ, chập chờn, không rõ nét. Từ láy này gợi ánh sáng cuối ngày đang nhạt dần.
- Tiếng ốc: tiếng tù và thổi bằng vỏ ốc, thường nghe ở chùa chiền hay đồn canh lúc chiều về.
- Ngư ông, mục tử: ông chài và chú bé chăn trâu, hai hình ảnh quen thuộc của cảnh quê.
- Viễn phố, cô thôn: bến xa, xóm làng lẻ loi.
- Chương Đài: điển tích lấy từ văn học Trung Quốc. Chương Đài là tên một con đường ở kinh đô Trường An, gắn với chuyện người vợ ở nhà mỏi mòn chờ chồng đi xa. Trong thơ, chữ này dùng để chỉ người thân ở quê nhà.
- Lữ thứ: người đi xa, phải ở trọ nơi đất khách.
- Hàn ôn: nghĩa đen là “lạnh – ấm”, ở đây chỉ chuyện hỏi han, tâm sự cùng nhau.
Dàn ý phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà
Mở bài
- Giới thiệu Bà Huyện Thanh Quan, nữ sĩ có thơ Nôm Đường luật trang nhã, buồn man mác.
- Giới thiệu bài thơ và nêu nhận định chung: bức tranh chiều quê gợi nỗi nhớ nhà của người xa xứ.
Thân bài
- Hai câu đề: thời gian và âm thanh của buổi chiều. Từ láy “bảng lảng” và cụm “bóng hoàng hôn” gợi ánh sáng tàn dần. Âm thanh “tiếng ốc”, “trống dồn” vọng lại từ xa làm cảnh thêm vắng. Buổi chiều là lúc con người dễ nhớ nhà nhất (liên hệ ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau”).
- Hai câu thực: con người trở về. Phép đối chỉnh (gác mái – gõ sừng, ngư ông – mục tử, về – lại, viễn phố – cô thôn). Câu thơ mở đầu bằng động tác, nhịp 2/5. Ai cũng có chốn để về, càng làm nổi bật nhân vật trữ tình đang lẻ loi ở nơi xa.
- Hai câu luận: chim mỏi, khách vội. Không gian “ngàn mai”, “dặm liễu” mênh mông. Chim “bay mỏi” về tổ, khách “bước dồn” trên đường. Chữ “dồn” lặp lại ở câu 2 và câu 6, như nhịp thúc giục trong lòng người.
- Hai câu kết: nỗi nhớ không biết tỏ cùng ai. Tiểu đối “Kẻ chốn Chương Đài – người lữ thứ” cho thấy hai người ở hai nơi cách xa. Câu hỏi tu từ “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” khép lại bài thơ bằng nỗi cô đơn.
- Đánh giá nghệ thuật: tả cảnh ngụ tình, phép đối, từ Hán Việt, điển tích, câu hỏi tu từ, vần “ôn” nghe trầm và buồn.
Kết bài
- Khẳng định giá trị bài thơ: tình yêu gia đình, quê hương sâu nặng được nói lên bằng giọng thơ kín đáo.
- Nêu cảm nghĩ của em: biết trân trọng mái nhà và người thân.
Bài mẫu 1: Phân tích theo bố cục đề – thực – luận – kết
Có những bài thơ không cần gọi tên nỗi buồn mà người đọc vẫn thấy buồn, “Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ như thế. Chỉ trong tám câu thất ngôn Đường luật, nữ sĩ đã vẽ lại một buổi chiều quê. Nhìn kĩ vào bức tranh ấy, ta bắt gặp nỗi nhớ nhà khôn nguôi của một người đang ở xa.
Hai câu đề mở ra thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm. Từ láy “bảng lảng” làm ánh hoàng hôn như phủ một lớp sương mờ, chẳng còn rõ nét. Âm thanh cũng không vang ở gần mà “xa đưa”, “vẳng” lại: tiếng tù và, tiếng trống dồn dập báo hiệu ngày đã tàn. Âm thanh vọng từ xa như thế càng làm không gian thêm rộng và thêm vắng.
Đến hai câu thực, con người xuất hiện bằng hai động tác quen thuộc. Ông chài “gác mái” chèo trở về bến xa, chú mục đồng “gõ sừng” trâu về xóm nhỏ. Phép đối chỉnh từng vế cho thấy nhịp sống quê đang khép lại thật êm đềm. Ai cũng có một nơi để về, và chính sự trở về của người khác làm người đứng ngắm thấm thía hơn cảnh mình lạc lõng nơi đất khách.
Hai câu luận chuyển từ cảnh người khác sang chính mình. Cánh chim giữa “ngàn mai gió cuốn” đã “bay mỏi” mà vẫn gắng về tổ. Người khách trên “dặm liễu sương sa” thì “bước dồn”, bước chân gấp gáp khi đêm sắp xuống. Chim với người được đặt cạnh nhau qua phép đối, một bên mỏi cánh, một bên mỏi chân, nhưng cùng hướng về chốn cũ.
Hai câu kết là lời trực tiếp của tâm trạng. “Kẻ chốn Chương Đài” là người thân ở quê, “người lữ thứ” là chính nữ sĩ đang ở trọ nơi xa. Hai vế đối nhau ngay trong một dòng thơ như chia đôi hai phương trời. Câu hỏi “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” không cần lời đáp, bởi chẳng có ai bên cạnh để nghe.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, lời thơ trang nhã và phép đối chuẩn mực, Bà Huyện Thanh Quan đã biến một buổi chiều bình thường thành nơi chứa nỗi nhớ của mình. Đọc bài thơ, ta hiểu rằng điều làm con người cô đơn nhất là không có ai để hỏi han lúc chiều về.
Bài mẫu 2: Đi theo ba lớp “ánh sáng – âm thanh – chuyển động”
Muốn hiểu vì sao “Chiều hôm nhớ nhà” buồn đến thế, ta có thể đọc bài thơ như xem một thước phim chậm. Lần lượt hiện ra ánh sáng tắt dần, âm thanh xa dần rồi những chuyển động dần ngừng lại. Mọi thứ đều đang “dần” khép lại, chỉ riêng nỗi nhớ là cứ lớn lên.
Lớp thứ nhất là ánh sáng. Câu mở đầu dồn ba chữ cùng chỉ thời gian là “trời chiều”, “hoàng hôn” và “bóng”. Ánh sáng không chói chang mà “bảng lảng”, nghĩa là ánh ngày đang lụi đi. Trong thơ trung đại, hoàng hôn thường đi cùng nỗi nhớ nhà, nên cảnh ở đây đã mang sẵn màu buồn của lòng người.
Lớp thứ hai là âm thanh. “Tiếng ốc”, “trống dồn” vốn là những âm thanh lớn, nhưng nhà thơ chỉ để chúng “xa đưa”, “vẳng” lại. Lấy âm thanh để tả sự tĩnh lặng là cách nhiều nhà thơ cổ ưa dùng. Tiếng trống “dồn” còn như một lời giục giã: đã đến giờ về nhà rồi.
Lớp thứ ba là chuyển động, và đây là lớp gây xúc động nhất. Ông chài về bến, mục đồng về thôn, chim bay về tổ: mọi chuyển động trong bài đều hướng về chốn nghỉ. Chỉ có một chuyển động chưa có đích là bước chân của “khách”. Chữ “dồn” ở câu thứ sáu lặp lại chữ “dồn” của câu thứ hai, như tiếng trống chiều đã vang vào tận bước chân và lòng người.
Khi cảnh đã lặng hẳn, tình mới bật ra ở hai câu kết. Nữ sĩ mượn điển “Chương Đài” để nói về người thân ở quê một cách kín đáo, đúng phong thái của thơ bà. Rồi câu hỏi tu từ cuối bài vang lên, khép lại thước phim bằng một khoảng lặng rất dài.
Đọc theo ba lớp như vậy, ta thấy bài thơ được tổ chức rất chặt chẽ. Cảnh càng thu lại thì tình càng lộ ra, đúng tinh thần “tả cảnh ngụ tình” của thơ Đường luật.
Bài mẫu 3: Đặt cạnh bài “Qua Đèo Ngang”
Bà Huyện Thanh Quan có hai bài thơ thường được nhắc cùng nhau là “Qua Đèo Ngang” và “Chiều hôm nhớ nhà”. Cả hai cùng viết về cảnh chiều, cùng có bóng dáng một người đi xa và cùng kết bằng nỗi cô đơn. Đặt hai bài cạnh nhau, em thấy rõ hơn cái riêng của “Chiều hôm nhớ nhà”.
Giống nhau trước hết là thời gian và không khí. “Qua Đèo Ngang” mở ra lúc “bóng xế tà”, còn “Chiều hôm nhớ nhà” mở ra trong “bóng hoàng hôn”. Trong cả hai bài, con người hiện lên nhỏ bé, thưa thớt: tiều phu “lom khom”, chợ “lác đác” bên kia, ngư ông và mục tử bên này. Cách dùng phép đối và từ Hán Việt cũng giống nhau, tạo nên giọng thơ trang trọng, cổ kính.
Điểm khác nằm ở hướng của nỗi buồn. Ở “Qua Đèo Ngang”, tiếng chim “quốc quốc”, “gia gia” gợi nỗi nhớ nước, thương nhà, rồi khép lại bằng hình ảnh “ta với ta” giữa trời non nước bao la. Còn “Chiều hôm nhớ nhà” hướng về một người cụ thể, đó là “kẻ chốn Chương Đài”, người thân đang đợi ở quê. Vì thế nỗi buồn ở bài này gần gũi, đời thường hơn, là nỗi thiếu vắng một người để hỏi han “hàn ôn”.
Cảnh trong hai bài cũng khác nhau. Cảnh Đèo Ngang là núi đèo hoang vắng, gần như đứng yên. Cảnh trong “Chiều hôm nhớ nhà” lại có nhiều chuyển động trở về: người về bến, về thôn, chim về tổ. Chính những cuộc trở về ấy làm nổi bật người khách duy nhất chưa về được, nên nỗi nhớ càng da diết.
So sánh như vậy giúp em hiểu phong cách thơ Bà Huyện Thanh Quan nhất quán ở giọng buồn, lời trang nhã, nhưng mỗi bài vẫn mang một sắc thái riêng. “Chiều hôm nhớ nhà” là tiếng lòng của một người con, người vợ xa nhà, giản dị mà thấm thía.
Bài mẫu 4: Bài viết ngắn từ góc nhìn của người đọc hôm nay
Lần đầu đọc “Chiều hôm nhớ nhà”, em thấy nhiều từ lạ như “viễn phố”, “lữ thứ”, “hàn ôn”. Nhưng khi hiểu nghĩa từng chữ, em nhận ra bài thơ nói về một cảm giác mà ai cũng từng trải qua: chiều xuống ở một nơi xa và bỗng thấy nhớ nhà.
Bốn câu đầu là cảnh chiều quê với ánh nắng mờ dần, tiếng trống vọng lại, ông chài và chú bé chăn trâu cùng về. Bốn câu sau là chính người viết, bước chân vội trên đường mà nhà thì còn xa. Em ấn tượng nhất với hình ảnh “chim bay mỏi”, vì nó làm em nghĩ đến những người đi làm xa, mệt mỏi đến đâu vẫn muốn về với gia đình.
Câu cuối “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” khiến em suy nghĩ lâu nhất. Ngày xưa không có điện thoại hay mạng xã hội, xa nhà nghĩa là không thể hỏi han nhau, nên nỗi cô đơn ấy thật lớn. Ngày nay ta có thể gọi về nhà dễ dàng, nhưng nhiều khi lại quên làm điều đó. Bài thơ nhắc em hãy trân trọng những lúc được ở bên người thân và biết hỏi han cha mẹ mỗi ngày.
Lỗi thường gặp và mẹo làm bài
- Chỉ diễn xuôi lời thơ: mỗi ý phân tích nên có đủ ba bước: trích chi tiết, chỉ ra biện pháp nghệ thuật, nói tác dụng đối với tâm trạng.
- Hiểu sai “Chương Đài”: đây không phải tên một địa danh ở Việt Nam mà là điển tích, chỉ người thân ở quê nhà.
- Bỏ qua chữ “dồn” lặp lại: ít bạn để ý chi tiết này. Nếu biết khai thác, bài viết sẽ có điểm nhấn riêng.
- Quên đặc trưng thể loại: đề yêu cầu phân tích thơ Đường luật nên cần nhắc tới phép đối, luật vần và bố cục.
- Mẹo nhớ bố cục: “Chiều tàn – người về – khách vội – lòng buồn” tương ứng với đề, thực, luận, kết.
Luyện tập có đáp án
Câu 1. Chỉ ra các cặp đối trong hai câu thực và nêu tác dụng.
Đáp án: Có các cặp gác mái – gõ sừng, ngư ông – mục tử, về – lại, viễn phố – cô thôn. Phép đối làm câu thơ cân xứng, nhịp nhàng, gợi cảnh sinh hoạt quê yên bình lúc chiều tối. Đồng thời, cảnh mọi người được trở về làm nổi bật sự lẻ loi của người xa xứ.
Câu 2. Câu thơ “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” dùng biện pháp tu từ gì? Tác dụng?
Đáp án: Đây là câu hỏi tu từ: hỏi nhưng không cần câu trả lời. Câu hỏi bộc lộ nỗi cô đơn, không có người tri kỉ để sẻ chia, và khép bài thơ bằng một dư âm buồn.
Câu 3. Viết đoạn văn khoảng 5–7 câu phân tích hai câu luận.
Gợi ý: Nêu không gian rộng (ngàn mai, dặm liễu), phép đối chim – khách, các từ “bay mỏi”, “bước dồn”, rồi liên hệ chữ “dồn” ở câu 2 để kết luận về tâm trạng mỏi mệt, nóng lòng muốn về nhà.
Tham khảo thêm: Đoạn văn phân tích cảnh và tình trong bài thơ Chiều hôm nhớ nhà, Soạn bài Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ Đường luật), Phân tích bài thơ Thu vịnh, Phân tích bài thơ Thu ẩm, Văn mẫu 8 – Kết nối tri thức.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Chiều hôm nhớ nhà viết theo thể thơ gì?
Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần bằng "ôn" ở các câu 1, 2, 4, 6, 8. Câu 3–4 và câu 5–6 đối nhau.
"Chương Đài" trong bài thơ có nghĩa là gì?
Chương Đài là một điển tích lấy từ văn học Trung Quốc, gắn với hình ảnh người vợ ở nhà mỏi mòn chờ chồng đi xa. Trong bài thơ, chữ này chỉ người thân ở quê nhà, đối với "người lữ thứ" là tác giả đang sống nơi đất khách.
Bố cục bài thơ Chiều hôm nhớ nhà gồm mấy phần?
Có thể chia theo bốn phần đề – thực – luận – kết, mỗi phần hai câu. Cũng có thể chia làm hai phần: bốn câu đầu tả cảnh chiều, bốn câu sau bộc lộ tâm trạng nhớ nhà.
Nghệ thuật nổi bật của bài thơ là gì?
Bài thơ dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình, phép đối chỉnh, nhiều từ Hán Việt trang nhã, điển tích Chương Đài và câu hỏi tu từ ở cuối bài. Những yếu tố này giúp nỗi nhớ nhà được nói lên kín đáo mà vẫn sâu sắc.