Muốn làm thằng Cuội (Tản Đà): tác giả, tác phẩm, đọc hiểu Ngữ văn 8

Trả lời nhanh

Muốn làm thằng Cuội là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật của Tản Đà (1889 – 1939), in trong tập Khối tình con. Bài thơ bày tỏ nỗi chán ghét thực tại tầm thường và ước mơ lên cung trăng làm bạn với chị Hằng. Qua đó, tác giả thể hiện cái ngông, tâm hồn lãng mạn và khát vọng sống tự do, vui tươi.

1. Văn bản bài thơ

Tản Đà mất năm 1939, tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ nên chúng ta có thể đọc trọn vẹn bài thơ:

Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Cung quế có ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu, có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Lưu ý: một số tài liệu chép câu 3 là “Cung quế đã ai ngồi đó chửa”. Khi làm bài, em nên theo đúng văn bản trong sách giáo khoa lớp mình đang dùng.

2. Đôi nét về tác giả Tản Đà

  • Tên thật: Nguyễn Khắc Hiếu (1889 – 1939). Bút hiệu Tản Đà ghép từ núi Tản Viên và sông Đà, hai cảnh gắn với quê hương ông.
  • Quê quán: vùng Bất Bạt, Sơn Tây cũ, nay thuộc Ba Vì, Hà Nội.
  • Cuộc đời: xuất thân trong gia đình nho học, thi cử không đỗ đạt, sau chuyển sang viết báo, làm thơ, viết văn và sống bằng ngòi bút – một lựa chọn khá mới mẻ của người trí thức đầu thế kỉ XX.
  • Vị trí văn học: được xem là “gạch nối” giữa thơ ca trung đại và thơ ca hiện đại Việt Nam; thơ ông còn mang hình thức cũ nhưng hồn thơ đã có cái tôi cá nhân rất rõ, mở đường cho phong trào Thơ mới.
  • Một số tác phẩm tiêu biểu: Khối tình con, Giấc mộng con, Thề non nước, Còn chơi…

3. Đôi nét về tác phẩm

Nội dung Kiến thức cần nhớ
Xuất xứ In trong tập Khối tình con (nhiều tài liệu ghi xuất bản năm 1917)
Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ)
Bố cục 4 phần: đề (câu 1–2), thực (3–4), luận (5–6), kết (7–8)
Phương thức biểu đạt Biểu cảm
Nhân vật trữ tình “Em” – cái tôi của nhà thơ, đang trò chuyện với chị Hằng
Chủ đề Nỗi buồn chán thực tại và khát vọng thoát li bằng mộng tưởng

Hoàn cảnh xã hội. Đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam là xã hội thực dân nửa phong kiến. Nhiều trí thức giàu cá tính như Tản Đà thấy mình lạc lõng, không tìm được chỗ đứng. Nỗi “chán” trong bài thơ vì thế không phải sự buồn vu vơ mà là thái độ bất hoà với cuộc sống tù túng quanh mình.

4. Đọc hiểu văn bản theo bố cục

Hai câu đề: nỗi buồn chán trần thế

“Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi! / Trần thế em nay chán nửa rồi.”

  • Nhà thơ mở đầu bằng một lời gọi: “chị Hằng ơi”. Mặt trăng không còn xa vời, thiêng liêng mà trở thành người chị thân thiết để tâm sự.
  • Cách xưng hô “em – chị” gần gũi, tự nhiên, có chút tình tứ và táo bạo so với thơ cổ vốn trang trọng.
  • Các từ “buồn lắm”, “chán nửa rồi” nói thẳng tâm trạng. Chữ “nửa” là cách nói hóm hỉnh: chán đến mức không còn một nửa hứng thú nào.
  • Ý nghĩa: tâm trạng buồn chán, bất mãn sâu sắc với cuộc đời thường.

Hai câu thực: ước muốn lên cung trăng

“Cung quế có ai ngồi đó chửa? / Cành đa xin chị nhắc lên chơi.”

  • Câu hỏi “có ai ngồi đó chửa?” giống lời hỏi han đời thường, như hỏi chỗ ngồi còn trống hay không. Trời trăng được kéo về gần gũi.
  • Hình ảnh “cung quế”, “cành đa” lấy từ truyền thuyết chú Cuội ngồi gốc cây đa trên mặt trăng.
  • Động từ “nhắc lên” rất khẩu ngữ, như nhờ chị nhấc bổng mình lên – ngộ nghĩnh mà đầy khát khao.
  • Ý nghĩa: ước muốn thoát khỏi trần gian một cách lãng mạn và “ngông”.

Hai câu luận: cuộc sống vui tươi, tự do

“Có bầu, có bạn can chi tủi, / Cùng gió, cùng mây thế mới vui.”

  • Hai câu đối nhau khá chỉnh: “có bầu, có bạn” – “cùng gió, cùng mây”; “can chi tủi” – “thế mới vui”.
  • Phép điệp “có… có…”, “cùng… cùng…” tạo nhịp thơ nhẹ nhàng, thể hiện niềm hân hoan.
  • Thiên nhiên (gió, mây) trở thành bạn bè; ở đó không còn cô đơn, tủi hờn như nơi trần thế.
  • Ý nghĩa: khát vọng sống thanh thoát, phóng khoáng, hoà hợp với thiên nhiên.

Hai câu kết: tiếng cười nhìn xuống thế gian

“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám, / Tựa nhau trông xuống thế gian cười.”

  • Hình ảnh hai chị em “tựa nhau” trông xuống trần là một cảnh hoàn toàn tưởng tượng, vừa đẹp vừa tinh nghịch.
  • “Rằm tháng tám” là đêm trăng sáng nhất, khi người dưới trần đang vui Tết Trung thu – nhà thơ đứng ở vị trí cao để nhìn xuống.
  • Tiếng “cười” mang hai sắc thái: thoả mãn vì được tự do, và mỉa mai trước thế gian tầm thường.
  • Ý nghĩa: đỉnh cao của cái ngông, đồng thời hé lộ mong muốn xã hội đổi thay theo hướng tốt đẹp hơn.

5. Giá trị nội dung và nghệ thuật

Giá trị nội dung

Bài thơ là tâm sự của một con người bất hoà với thực tại tầm thường, muốn thoát li bằng mộng tưởng lên cung trăng làm bạn với chị Hằng. Đằng sau đó là cái tôi cá nhân lãng mạn, khao khát tự do và một chút kiêu bạc trước đời.

Giá trị nghệ thuật

  • Giọng thơ hóm hỉnh, phóng túng, pha chút ngông.
  • Ngôn ngữ bình dị, trong sáng, dùng nhiều khẩu ngữ (“chửa”, “nhắc lên chơi”, “can chi”).
  • Tưởng tượng độc đáo: trò chuyện với trăng như với người thân.
  • Vận dụng linh hoạt truyền thuyết dân gian trong khuôn khổ thể thơ Đường luật chặt chẽ.

6. Sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
Sơ đồ tư duy tóm tắt kiến thức bài Muốn làm thằng Cuội

7. Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề nêu thẳng ước muốn: làm “thằng Cuội”. Chữ “thằng” nghe suồng sã, dân dã, mang giọng đùa. Ở đây, Cuội là nhân vật trong truyền thuyết, sống ở cung trăng, cách xa trần gian. Muốn làm Cuội tức là muốn rời cõi trần để tìm một thế giới thanh cao, tự do hơn.

8. Mẹo nhớ và lỗi sai thường gặp

  • Nhớ bố cục: “Đề – Thực – Luận – Kết”, mỗi phần đúng 2 câu. Đề nêu nỗi buồn, thực nêu ước muốn, luận tả niềm vui, kết tả tiếng cười.
  • Nhớ cảm xúc: buồn chán → mong muốn → vui sướng → mỉa mai. Có thể nhớ bằng bốn chữ: chán – ước – vui – cười.
  • Lỗi 1: cho rằng bài thơ chỉ ca ngợi vẻ đẹp đêm trăng. Thực ra trăng chỉ là nơi gửi gắm khát vọng thoát li.
  • Lỗi 2: hiểu “thoát li” là bi quan, trốn tránh hoàn toàn. Cần nói thêm tiếng cười cuối bài còn có thái độ mỉa mai, ngầm phê phán thế gian.
  • Lỗi 3: ghi sai thể thơ (thất ngôn tứ tuyệt) hoặc sai tên tác giả. Bài thơ có 8 câu nên là thất ngôn bát cú.
  • Lỗi 4: chép sai chữ trong thơ. Hãy đối chiếu từng câu với văn bản ở mục 1.

9. Bài luyện tập có đáp án

Câu 1. Cách xưng hô “em – chị” trong bài thơ có tác dụng gì?

Gợi ý: Tạo sự gần gũi, thân mật, biến vầng trăng thành người bạn tri âm; đồng thời thể hiện giọng điệu mới mẻ, táo bạo, phóng túng của Tản Đà so với thơ cổ.

Câu 2. Vì sao nói hai câu cuối thể hiện “cái ngông” của thi sĩ?

Gợi ý: Nhà thơ tưởng tượng mình cùng chị Hằng ngồi trên cao, mỗi đêm rằm “trông xuống thế gian cười”. Đó là tư thế đứng trên cuộc đời để cười cợt, thể hiện cá tính kiêu hãnh, không chịu hoà mình vào sự tầm thường.

Câu 3. Viết đoạn văn 4–5 câu nêu cảm nhận về hai câu luận.

Đoạn tham khảo: Hai câu luận mở ra một thế giới vui tươi mà thi sĩ mong ước. “Có bầu, có bạn” nghĩa là không còn cô đơn, “cùng gió, cùng mây” là được hoà vào thiên nhiên rộng mở. Phép đối chỉnh cùng điệp từ tạo nhịp thơ nhẹ nhõm như tiếng reo vui. Qua đó ta thấy niềm khao khát tự do, thanh thoát của Tản Đà, đối lập hẳn với nỗi “chán” ở trần thế.

10. Tài liệu ôn tập thêm

  • Soạn bài Muốn làm thằng Cuội – ngắn nhất
  • Nội dung, dàn ý phân tích, bố cục, tóm tắt
  • Sơ đồ tư duy bài Muốn làm thằng Cuội
  • Các mẫu tóm tắt Muốn làm thằng Cuội
  • Hai chữ nước nhà – tác giả, tác phẩm

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Muốn làm thằng Cuội thuộc thể thơ gì?

Bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, chia thành bốn phần đề, thực, luận, kết.

Nội dung chính của Muốn làm thằng Cuội là gì?

Bài thơ thể hiện tâm trạng chán ghét thực tại tầm thường và ước mơ lên cung trăng làm bạn với chị Hằng, qua đó bộc lộ cái ngông, tâm hồn lãng mạn và khát vọng tự do của Tản Đà.

Vì sao Tản Đà được gọi là gạch nối giữa thơ cổ và thơ hiện đại?

Thơ ông vẫn dùng thể thơ truyền thống nhưng đã có cái tôi cá nhân, cảm xúc phóng túng và ngôn ngữ gần đời sống, tạo tiền đề cho phong trào Thơ mới sau này.

Hai câu kết có ý nghĩa gì?

Hình ảnh hai chị em tựa nhau nhìn xuống thế gian mà cười thể hiện sự thoả mãn khi được tự do, đồng thời là tiếng cười mỉa mai cõi trần tầm thường, đỉnh cao của cái ngông.