Trả lời nhanh
Trang này tổng hợp kiến thức tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9 Kết nối tri thức theo đúng thứ tự bài học. Học kì 1 mở đầu với Bài 1 “Thế giới kì ảo” (Chuyện người con gái Nam Xương, Dế chọi, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Ngọc nữ về tay chân chủ) và Bài 2 “Những cung bậc tâm trạng” (Nỗi niềm chinh phụ, Tiếng đàn mưa, Một thể thơ độc đáo của người Việt, Nỗi sầu oán của người cung nữ). Mỗi mục tóm tắt tiểu sử tác giả, xuất xứ, thể loại, nội dung và nghệ thuật chính để em ôn nhanh.
Chọn bộ sách Ngữ văn 9
Ba bộ sách Ngữ văn 9 có cùng yêu cầu cần đạt nhưng khác nhau về văn bản đọc. Em chọn đúng bộ sách mình đang học:
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 – Kết nối tri thức
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 – Chân trời sáng tạo
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 – Cánh diều
Ngữ văn 9 Kết nối tri thức học những gì?
Sách được tổ chức theo các bài học chủ đề, mỗi bài gắn với một thể loại trọng tâm. Hai bài đầu của Học kì 1 đưa em đến với văn học trung đại Việt Nam và văn học nước ngoài qua hai mảng lớn:
- Truyện truyền kì (Bài 1): loại truyện dùng yếu tố kì ảo như thần linh, ma quỷ, cõi âm, sự biến hóa để phản ánh hiện thực và gửi gắm quan niệm đạo đức. Em cần chỉ ra được yếu tố kì ảo và tác dụng của nó.
- Thơ song thất lục bát và thơ trữ tình (Bài 2): khám phá đời sống nội tâm của nhân vật trữ tình, đặc biệt là thể song thất lục bát, một thể thơ thuần Việt.
Khi học tác giả – tác phẩm, em nên nắm năm ý: (1) tác giả là ai, sống ở thời nào, phong cách ra sao; (2) xuất xứ, hoàn cảnh ra đời; (3) thể loại và phương thức biểu đạt; (4) nội dung, chủ đề; (5) đặc sắc nghệ thuật. Các mục tóm tắt bên dưới đều theo khung này.
Mục lục tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9 Học kì 1
Bài 1: Thế giới kì ảo
- Tác giả – tác phẩm: Chuyện người con gái Nam Xương
- Tác giả – tác phẩm: Dế chọi
- Tác giả – tác phẩm: Sơn Tinh – Thủy Tinh
- Tác giả – tác phẩm: Ngọc nữ về tay chân chủ
Bài 2: Những cung bậc tâm trạng
- Tác giả – tác phẩm: Nỗi niềm chinh phụ
- Tác giả – tác phẩm: Tiếng đàn mưa
- Tác giả – tác phẩm: Một thể thơ độc đáo của người Việt
- Tác giả – tác phẩm: Nỗi sầu oán của người cung nữ
Các bài tiếp theo của Học kì 1 đang được cập nhật.
Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 9 Học kì 2
Nội dung Học kì 2 đang được cập nhật.
Tóm tắt nhanh Bài 1: Thế giới kì ảo
Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ
- Tác giả: Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, quê ở Hải Dương (cũ), là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông chỉ làm quan một thời gian ngắn rồi về ở ẩn, sống gần gũi với nhân dân.
- Xuất xứ: truyện nằm trong tập Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán, được đánh giá là “thiên cổ kì bút”. Truyện có gốc từ truyện dân gian “Vợ chàng Trương”.
- Nội dung: Vũ Nương hiền thục, thủy chung, một mình nuôi con, chăm mẹ chồng khi chồng là Trương Sinh đi lính. Vì một câu nói ngây thơ của đứa con về “cái bóng”, Trương Sinh ghen tuông mù quáng, khiến nàng phải tự vẫn ở sông Hoàng Giang. Truyện ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ và tố cáo xã hội phong kiến, chiến tranh, thói gia trưởng đã đẩy họ vào bi kịch.
- Nghệ thuật: kết hợp yếu tố hiện thực với kì ảo (Phan Lang gặp Vũ Nương dưới thủy cung của Linh Phi, cảnh Vũ Nương hiện về giữa dòng sông); chi tiết “cái bóng” vừa thắt nút vừa mở nút câu chuyện; kết thúc có hậu nhưng vẫn đượm buồn.
Dế chọi – Bồ Tùng Linh
- Tác giả: Bồ Tùng Linh (1640–1715), nhà văn Trung Quốc thời Thanh, người tỉnh Sơn Đông, nổi tiếng với tập truyện truyền kì Liêu trai chí dị.
- Nội dung: truyện lấy bối cảnh triều Tuyên Đức nhà Minh, khi trong cung chuộng trò chọi dế và quan lại bắt dân nộp dế. Gia đình Thành Danh khốn đốn vì nghĩa vụ ấy; đứa con trai lỡ làm chết con dế, sợ hãi gieo mình xuống giếng, rồi hồn hóa thành một con dế nhỏ chọi giỏi. Qua đó, tác giả phê phán thú chơi xa xỉ của vua chúa và sự nhũng nhiễu của quan lại.
- Nghệ thuật: yếu tố kì ảo (hồn người hóa dế) làm nổi bật hiện thực đau xót; giọng kể vừa trào phúng vừa xót thương.
Sơn Tinh – Thủy Tinh – Nguyễn Nhược Pháp
- Tác giả: Nguyễn Nhược Pháp (1914–1938), người Hà Nội, nhà thơ của phong trào Thơ mới, để lại tập thơ Ngày xưa (1935).
- Nội dung: bài thơ kể lại truyền thuyết quen thuộc về cuộc cầu hôn và cuộc giao tranh giữa Sơn Tinh, Thủy Tinh nhưng bằng cái nhìn mới mẻ, hóm hỉnh, gần gũi đời thường.
- Nghệ thuật: giọng thơ dí dỏm, nhiều chi tiết sáng tạo về nhân vật Mị Nương và các vị thần; kết hợp tự sự với trữ tình, cho thấy cách người hiện đại “kể lại” truyền thuyết.
Ngọc nữ về tay chân chủ
- Xuất xứ: truyện chữ Hán trong tập Thánh Tông di thảo, tương truyền của vua Lê Thánh Tông (1442–1497), được đưa vào phần đọc mở rộng theo thể loại.
- Nội dung: nhan đề cho thấy câu chuyện xoay quanh việc người ngọc nữ cuối cùng thuộc về đúng “chân chủ”, người thực sự xứng đáng. Qua đó truyện gửi gắm quan niệm đề cao tài đức.
- Khi đọc: em xác định các yếu tố kì ảo, nhân vật và lí do kết thúc, rồi so sánh với Chuyện người con gái Nam Xương để thấy đặc trưng truyện truyền kì Việt Nam.
Tóm tắt nhanh Bài 2: Những cung bậc tâm trạng
Nỗi niềm chinh phụ – Đặng Trần Côn
- Tác giả, dịch giả: nguyên tác Chinh phụ ngâm viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn (thế kỉ XVIII). Bản diễn Nôm phổ biến theo thể song thất lục bát tương truyền của Đoàn Thị Điểm; cũng có ý kiến cho là của Phan Huy Ích.
- Nội dung: đoạn trích diễn tả nỗi cô đơn, buồn nhớ của người vợ có chồng ra trận; gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến và thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi.
- Nghệ thuật: bút pháp tả cảnh ngụ tình, hình ảnh ước lệ, nhịp thơ song thất lục bát da diết, trầm buồn.
Tiếng đàn mưa – Bích Khê
- Tác giả: Bích Khê (1916–1946), tên thật Lê Quang Lương, quê Quảng Ngãi, nhà thơ Thơ mới chịu ảnh hưởng thơ tượng trưng, tác giả tập Tinh huyết.
- Nội dung: bài thơ cảm nhận tiếng mưa như một bản nhạc, qua đó bộc lộ những rung động tinh tế của tâm hồn.
- Nghệ thuật: giàu nhạc tính, sử dụng từ láy, điệp âm, hình ảnh liên tưởng độc đáo.
Một thể thơ độc đáo của người Việt
- Thể loại: văn bản nghị luận – thông tin giới thiệu thể thơ song thất lục bát.
- Nội dung chính: mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ (song thất) và một cặp lục bát; câu thất thường ngắt nhịp 3/4. Vần kết hợp vần trắc và vần bằng: tiếng thứ bảy câu thất đầu vần với tiếng thứ năm câu thất sau (vần trắc), tiếng thứ bảy câu thất sau vần với tiếng thứ sáu câu lục, tiếng thứ sáu câu lục vần với tiếng thứ sáu câu bát, tiếng thứ tám câu bát lại vần sang khổ tiếp theo.
- Ý nghĩa: thể thơ này phù hợp để diễn tả tâm trạng triền miên, day dứt, nên được dùng nhiều trong các khúc ngâm.
Nỗi sầu oán của người cung nữ – Nguyễn Gia Thiều
- Tác giả: Nguyễn Gia Thiều (1741–1798), thường gọi là Ôn Như Hầu, người Bắc Ninh, giỏi văn chương, âm nhạc và hội họa.
- Xuất xứ: đoạn trích thuộc Cung oán ngâm khúc, viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát.
- Nội dung: tâm trạng sầu muộn, oán hận của người cung nữ tài sắc bị nhà vua ruồng bỏ, phải sống cô quạnh trong cung cấm; tiếng nói tố cáo chế độ cung tần và thông cảm với khát vọng hạnh phúc của con người.
- Nghệ thuật: ngôn ngữ trau chuốt, giàu điển cố, hình ảnh đối lập giữa quá khứ được sủng ái và hiện tại lạnh lẽo.
Bảng ôn tập nhanh
| Tác phẩm | Tác giả | Thể loại |
|---|---|---|
| Chuyện người con gái Nam Xương | Nguyễn Dữ | Truyện truyền kì (chữ Hán) |
| Dế chọi | Bồ Tùng Linh | Truyện truyền kì Trung Quốc |
| Sơn Tinh – Thủy Tinh | Nguyễn Nhược Pháp | Thơ (Thơ mới) |
| Ngọc nữ về tay chân chủ | Tương truyền Lê Thánh Tông | Truyện truyền kì (chữ Hán) |
| Nỗi niềm chinh phụ | Đặng Trần Côn (bản dịch tương truyền Đoàn Thị Điểm) | Ngâm khúc song thất lục bát |
| Tiếng đàn mưa | Bích Khê | Thơ trữ tình |
| Một thể thơ độc đáo của người Việt | – | Văn bản nghị luận – thông tin |
| Nỗi sầu oán của người cung nữ | Nguyễn Gia Thiều | Ngâm khúc song thất lục bát (chữ Nôm) |
Câu hỏi thường gặp
Bài 1 Ngữ văn 9 Kết nối tri thức gồm những văn bản nào?
Bài 1 Thế giới kì ảo gồm Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ), Dế chọi (Bồ Tùng Linh), Sơn Tinh – Thủy Tinh (Nguyễn Nhược Pháp) và văn bản đọc mở rộng Ngọc nữ về tay chân chủ.
Truyền kì mạn lục có bao nhiêu truyện?
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán; Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện tiêu biểu.
Thể thơ song thất lục bát là gì?
Là thể thơ thuần Việt, mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ và một cặp lục bát, kết hợp vần trắc với vần bằng, thường dùng trong các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc.
Ai là tác giả bản dịch Chinh phụ ngâm?
Nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn; bản diễn Nôm phổ biến tương truyền của Đoàn Thị Điểm, cũng có ý kiến cho là của Phan Huy Ích.