Trả lời nhanh
Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước là văn bản nghị luận văn học của nhà giáo Vũ Dương Quỹ, học trong Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (Bài 2: Giá trị của văn chương). Văn bản chứng minh bài thơ của Hồ Xuân Hương có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực về chiếc bánh trôi và nghĩa hàm ẩn về vẻ đẹp, thân phận, phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Thông tin chung về văn bản
| Tác giả | Vũ Dương Quỹ |
|---|---|
| Thể loại | Văn bản nghị luận văn học (bình giảng một bài thơ) |
| Đối tượng bàn luận | Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương |
| Vị trí trong chương trình | Ngữ văn 9, bộ Chân trời sáng tạo, Bài 2: Giá trị của văn chương |
| Phương thức biểu đạt chính | Nghị luận, kết hợp miêu tả và biểu cảm |
| Luận đề | Bài thơ Bánh trôi nước là một bài thơ đa nghĩa |
Tác giả Vũ Dương Quỹ
- Vũ Dương Quỹ là nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, gắn bó lâu năm với việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường.
- Ông là tác giả và đồng tác giả của nhiều sách bình giảng, hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm văn học dành cho giáo viên và học sinh.
- Phong cách nghị luận: lời văn mạch lạc, dễ hiểu, đi từ chi tiết cụ thể của tác phẩm đến nhận xét khái quát, thường liên hệ với văn học dân gian để làm sáng tỏ vấn đề.
Bài thơ được bàn luận: Bánh trôi nước
Bánh trôi nước là bài thơ Nôm nổi tiếng của Hồ Xuân Hương, nữ sĩ được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”, sống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. Bài thơ viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Chỉ với 28 chữ, bài thơ vừa tả một món bánh dân dã vừa gửi gắm lời tự bạch của người phụ nữ. Chính sự “hai trong một” này là đối tượng mà văn bản của Vũ Dương Quỹ phân tích.
Bố cục văn bản
- Phần mở: nêu vấn đề, khẳng định bài thơ có nhiều lớp nghĩa.
- Phần phân tích nghĩa thứ nhất: nghĩa tả thực, chiếc bánh trôi được miêu tả từ hình dáng, cách làm đến lúc luộc chín.
- Phần phân tích nghĩa thứ hai: nghĩa hàm ẩn, qua hình ảnh chiếc bánh nói về vẻ đẹp, thân phận và tấm lòng của người phụ nữ.
- Phần kết: đánh giá giá trị của bài thơ: chiếc bánh nhỏ bé đã trở thành lời nói hộ tâm sự của biết bao người phụ nữ.
Hệ thống luận đề – luận điểm – lí lẽ – bằng chứng

Luận điểm 1: Nghĩa tả thực – chiếc bánh trôi
- “trắng”, “tròn”: bánh làm từ bột nếp trắng, nặn thành viên tròn.
- “Bảy nổi ba chìm”: khi luộc, bánh còn sống thì chìm, chín thì nổi lên mặt nước.
- “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”: bánh rắn hay nát tùy vào tay người nặn, người nhào bột nhiều hay ít nước.
- “tấm lòng son”: nhân bánh là viên đường đỏ (đường phên) nằm bên trong, dù vỏ bánh thế nào thì nhân vẫn giữ nguyên.
Ở phần này, người viết trình bày khách quan (miêu tả đúng đặc điểm, cách làm bánh) rồi xen lời đánh giá chủ quan về sự tài tình của Hồ Xuân Hương khi tả một vật bình thường mà vẫn sinh động.
Luận điểm 2: Nghĩa hàm ẩn – người phụ nữ
- Vẻ đẹp: “trắng”, “tròn” gợi vẻ đẹp đầy đặn, trong trắng của người con gái. Mở đầu bằng “Thân em” là cách nói quen thuộc của ca dao than thân, như “Thân em như tấm lụa đào / Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.
- Thân phận: thành ngữ “bảy nổi ba chìm” gợi cuộc đời lênh đênh, chìm nổi; “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” cho thấy người phụ nữ không được tự quyết số phận mình mà phụ thuộc vào người khác.
- Phẩm chất: quan hệ từ “mà” ở câu cuối tạo bước ngoặt: dù hoàn cảnh ra sao, người phụ nữ vẫn giữ “tấm lòng son” thủy chung, son sắt.
Bằng chứng ở mỗi lí lẽ đều là câu thơ cụ thể, được soi chiếu thêm bằng ca dao, thành ngữ, nên lập luận vừa chặt chẽ vừa gần gũi.
Giá trị nội dung và nghệ thuật
Nội dung
- Làm sáng tỏ tính đa nghĩa, một đặc trưng quan trọng của ngôn ngữ thơ, qua bài thơ Bánh trôi nước.
- Khẳng định tài năng của Hồ Xuân Hương: mượn vật để nói người, vừa ca ngợi vẻ đẹp, phẩm chất vừa cảm thương cho thân phận người phụ nữ xưa.
- Gợi ý cho người đọc một cách tiếp cận thơ: không dừng ở nghĩa bề mặt mà tìm các tầng nghĩa sâu hơn.
Nghệ thuật
- Luận đề rõ ràng, hai luận điểm sắp xếp hợp lí: từ nghĩa tả thực đến nghĩa hàm ẩn.
- Lí lẽ sắc sảo, bằng chứng tiêu biểu (trích thơ, ca dao, thành ngữ).
- Kết hợp nhuần nhuyễn cách trình bày khách quan và chủ quan; giọng văn bình giảng giàu cảm xúc.
Gợi ý trả lời các câu hỏi đọc hiểu thường gặp
1. Ở đoạn phân tích nghĩa thứ nhất, người viết trình bày vấn đề theo cách khách quan hay chủ quan? Kết hợp cả hai: khách quan khi miêu tả đặc điểm, cách làm và cách luộc bánh; chủ quan khi bày tỏ sự thán phục với cách tả của Hồ Xuân Hương và chỉ ra lời tâm sự ẩn sau hình ảnh chiếc bánh.
2. Mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng? Luận đề (bài thơ đa nghĩa) được triển khai thành hai luận điểm; mỗi luận điểm được làm rõ bằng lí lẽ, và mỗi lí lẽ dựa trên bằng chứng là câu thơ, thành ngữ, ca dao (xem sơ đồ Hình 1).
3. Em có đồng ý rằng chiếc bánh trôi đã “nói hộ” nhiều người phụ nữ? Có thể đồng ý, vì trong xã hội phong kiến, người phụ nữ dù đẹp người, đẹp nết vẫn bị lệ thuộc, không làm chủ được cuộc đời. Lời tự bạch “Thân em” vì thế mang tính khái quát cho số phận chung chứ không của riêng ai.
4. Bài học về cách đọc một bài thơ? Cần đọc kĩ từng từ ngữ, hình ảnh; đặt chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội; liên hệ với văn học dân gian để phát hiện các lớp nghĩa; tránh hiểu thơ một cách một chiều.
Đoạn văn mẫu: Cảm nhận về tính đa nghĩa của bài thơ
Đọc văn bản của Vũ Dương Quỹ, em hiểu vì sao một bài thơ chỉ bốn câu lại sống mãi trong lòng người đọc. Nhìn bề ngoài, Hồ Xuân Hương chỉ tả chiếc bánh trôi trắng, tròn, lúc chìm lúc nổi trong nồi nước sôi. Nhưng đặt chữ “Thân em” ở đầu bài, nữ sĩ đã biến chiếc bánh thành người con gái đang tự giới thiệu mình. Vẻ đẹp ấy không được làm chủ, bởi “rắn nát” là do “tay kẻ nặn”. Thế rồi chữ “mà” vang lên như một lời khẳng định: hoàn cảnh có thể nhào nặn hình dáng, nhưng không thể thay đổi tấm lòng son. Bài thơ vì thế vừa là tiếng than, vừa là lời tự hào. Em nhận ra đọc thơ không chỉ là hiểu chữ, mà còn là lắng nghe những điều nằm phía sau con chữ.
Luyện tập có đáp án
- Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” mang nghĩa gì trong lớp nghĩa hàm ẩn? Đáp án: chỉ cuộc đời lận đận, trôi nổi, nhiều thăng trầm của người phụ nữ.
- Từ nào ở câu thơ cuối thể hiện thái độ khẳng định bản lĩnh của người phụ nữ? Đáp án: quan hệ từ “mà” (kết hợp với “vẫn giữ”), tạo thế đối lập giữa hoàn cảnh bị động và tấm lòng kiên định.
- Vì sao văn bản được xếp vào loại nghị luận văn học? Đáp án: vì văn bản bàn về một tác phẩm văn học, có luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng lấy từ chính tác phẩm.
Muốn luyện viết bài phân tích hoàn chỉnh, các em xem thêm Phân tích bài thơ Bánh trôi nước: dàn ý và bài mẫu; cùng chủ đề Giá trị của văn chương còn có bài thơ Thơ ca của Ra-xun Gam-da-tốp.
Câu hỏi thường gặp
Văn bản Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước của ai, học ở lớp mấy?
Văn bản do nhà giáo Vũ Dương Quỹ viết, được học trong Ngữ văn 9 bộ Chân trời sáng tạo, thuộc Bài 2: Giá trị của văn chương.
Luận đề của văn bản là gì?
Luận đề là: bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài thơ đa nghĩa, vừa tả thực chiếc bánh trôi vừa nói về vẻ đẹp, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ.
Văn bản có mấy luận điểm?
Văn bản có hai luận điểm chính: nghĩa tả thực (miêu tả chiếc bánh trôi) và nghĩa hàm ẩn (hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến).
Tấm lòng son trong bài thơ có nghĩa là gì?
Ở nghĩa tả thực, tấm lòng son là phần nhân đường đỏ bên trong chiếc bánh. Ở nghĩa hàm ẩn, đó là tấm lòng thủy chung, son sắt, không thay đổi của người phụ nữ dù cuộc đời nhiều chìm nổi.