Trả lời nhanh
Văn bản “Nắng mới, áo đỏ và nét cười đen nhánh” của Lê Quang Hưng là bài nghị luận văn học về bài thơ “Nắng mới” của Lưu Trọng Lư. Vấn đề trọng tâm là làm rõ ba chi tiết giàu sức gợi: nắng mới, áo đỏ, nét cười đen nhánh. Qua đó người viết khẳng định đây là bài thơ thành thực của một hồn thơ giàu mơ mộng, viết về tình mẹ con.
1. Chuẩn bị trước khi đọc
Em đọc lại bài thơ “Nắng mới” (đã học ở Bài 2) trước, vì văn bản nghị luận này bàn trực tiếp về bài thơ đó. Nếu nắm được mạch cảm xúc của thơ, em sẽ hiểu ngay người viết đang phân tích điều gì.
Em cũng nên tìm thêm một vài bài viết nghị luận khác về “Nắng mới” để đối chiếu cách khai thác. Khi đối chiếu, hãy chú ý mỗi tác giả chọn vấn đề nào và dùng bằng chứng nào để làm sáng tỏ.
2. Nội dung chính của văn bản
Bài viết đi sâu vào những nét đặc sắc của “Nắng mới”: hồn thơ thành thực, mơ mộng; hình ảnh “nắng mới” gợi một thời điểm và một không gian của kí ức; “áo đỏ” và “nét cười đen nhánh” làm hiện lên người mẹ gần gũi, ấm áp. Toàn bài thấm một tình yêu thương và lòng biết ơn đối với mẹ.
3. Trả lời câu hỏi giữa bài
Câu 1 (trang 91): Ở phần (1), người viết bàn về những yếu tố nào của bài thơ?
Phần (1) bàn về mô típ của bài thơ (ánh nắng mới làm sống dậy kí ức về mẹ) và chủ thể cất tiếng trong thơ, tức cái “hồn thơ” của Lưu Trọng Lư. Đây là phần đặt nền: trước khi soi từng chi tiết, người viết cho thấy bài thơ vận hành theo kiểu cảm xúc nào.
Câu 2 (trang 92): Phần (2) và (3) làm rõ nhan đề như thế nào?
Nhan đề có ba vế: nắng mới – áo đỏ – nét cười đen nhánh. Các phần (2), (3) lần lượt cụ thể hoá những vế ấy: phân tích “nắng mới” cùng “áo đỏ” rồi đến “nét cười”. Nhờ vậy, người đọc hiểu vì sao tác giả chọn đúng ba hình ảnh này để đặt tên bài. Nhan đề không chỉ là cái nhãn mà còn là bản đồ dẫn đường cho các luận điểm.
Câu 3 (trang 93): Phần (5) khái quát vấn đề nghị luận ra sao?
Phần (5) thu lại thành nhận định: “Nắng mới” là bài thơ rất thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng, chạm tới tình cảm muôn thuở mà lúc nào cũng mới mẻ. Đây là câu kết luận cho cả hệ thống luận điểm phía trên.
4. Trả lời câu hỏi cuối bài
Câu 1 (trang 94): Vấn đề trọng tâm là gì? Yếu tố nào giúp xác định nhanh?
- Vấn đề trọng tâm: làm rõ vẻ đẹp và ý nghĩa của các chi tiết nắng mới, áo đỏ, nét cười đen nhánh trong bài thơ của Lưu Trọng Lư.
- Yếu tố giúp nhận ra nhanh: trước hết là nhan đề (nêu đúng ba chi tiết), kèm phần chú thích “Về bài thơ Nắng mới” và câu mở đầu, câu kết của bài.
Câu 2 (trang 94): Hệ thống luận điểm được triển khai thế nào?
Có thể hình dung bố cục theo nội dung: hồn thơ của bài thơ → “nắng mới” và “áo đỏ” → “nét cười” → khái quát. Mỗi luận điểm được chống đỡ bằng lí lẽ và dẫn chứng như bảng dưới.
| Luận điểm | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Bài thơ hội tụ vẻ đẹp của một hồn thơ thành thực, mơ mộng | Nhà thơ để lòng mình tràn trên trang giấy, chạm vào tình cảm muôn thuở nhưng luôn mới | Mô típ bài thơ; chủ thể trữ tình |
| “Nắng mới” vừa là thời điểm vừa là không gian của kí ức | Hai chữ gợi khoảnh khắc đặc biệt trên dòng thời gian và một khoảng không mông lung, dễ khơi nhớ | Khổ thơ mở đầu “Mỗi lần nắng mới hắt bên song…” và khổ “Tôi nhớ mẹ tôi…” |
| Hình ảnh mẹ là tâm điểm của nỗi nhớ tuổi thơ | Dáng vào ra, “áo đỏ”, nét cười làm mẹ hiện lên cụ thể, thân thương | Khổ thơ “Hình dáng mẹ tôi…”; so sánh với thơ của Hoàng Cầm |
Câu 3 (trang 94): Đúng hay sai?
- a. Đúng. Các luận điểm sắp theo trình tự từ chung đến riêng rồi khái quát, người đọc dễ theo dõi.
- b. Đúng. Mỗi luận điểm đều trích thơ rồi phân tích cả nội dung (ý nghĩa, thông điệp) lẫn hình thức (hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu).
- c. Đúng. Bài có đối chiếu, mở rộng sang thơ của tác giả khác (Hoàng Cầm) để làm nổi bật giá trị của “Nắng mới”.
- d. Sai. Đây là bài nghị luận nên trọng tâm là lập luận; người viết không dùng dày đặc các phép tu từ. Mẹo: nghị luận mạnh ở lí lẽ, chứng cứ, chứ không phải ở “văn hoa”.
Câu 4 (trang 94): So với khi đọc bài thơ, em hiểu thêm điều gì?
Gợi ý trả lời: em hiểu thêm rằng “nắng mới” không chỉ là cảnh vật mà còn là chiếc chìa khoá mở kí ức; “áo đỏ” là mảng màu ấm của tuổi thơ; “nét cười đen nhánh sau tay áo” gợi vẻ duyên dáng, kín đáo của người mẹ xưa. Về nghệ thuật, em nhận ra sức mạnh của hình ảnh chọn lọc và giọng thơ chân thành, ít cầu kì.
Câu 5 (trang 94): Đoạn văn em thích nhất
Câu này mở, em tự chọn đoạn. Cách làm gọn: (1) nêu đoạn em chọn, (2) nói ý chính của đoạn, (3) chỉ ra điều khiến em thích (cách diễn đạt, góc nhìn mới, cảm xúc), (4) liên hệ bản thân. Ví dụ: “Em thích đoạn phân tích nét cười của mẹ, vì người viết không chỉ giải nghĩa từ ngữ mà còn giúp em hình dung một nụ cười hiền, e ấp. Đọc xong, em nhớ đến nụ cười của bà em mỗi chiều bên hiên nhà.”
5. Cách đọc hiểu một văn bản nghị luận văn học
- Đọc nhan đề và xác định vấn đề bàn luận.
- Tìm câu nêu luận điểm ở đầu mỗi phần.
- Gạch chân bằng chứng (câu thơ được trích) và xem người viết phân tích từ nào.
- Nhận xét cách lập luận: có so sánh, liên hệ không? Kết bài có khái quát không?
6. Lỗi thường gặp
- Nhầm tác giả: Lê Quang Hưng là người viết bài nghị luận, còn Lưu Trọng Lư là tác giả bài thơ.
- Chỉ kể lại nội dung bài thơ mà không nêu được luận điểm của người viết.
- Trả lời “dẫn chứng” bằng ý chung chung thay vì chỉ ra câu thơ cụ thể.
7. Luyện tập
- Bài 1. Nêu ba chi tiết trong nhan đề văn bản. Đáp án: nắng mới, áo đỏ, nét cười đen nhánh.
- Bài 2. Vì sao nói nhan đề giúp người đọc xác định nhanh vấn đề nghị luận? Gợi ý: vì nhan đề nêu đúng các đối tượng được phân tích ở thân bài.
- Bài 3. Viết 3–4 câu nêu cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong thơ. Gợi ý: bắt đầu bằng “Qua chi tiết áo đỏ và nét cười…”, nhấn vào sự ấm áp, kín đáo, sự biết ơn của người con.
8. Xem thêm các bài cùng văn bản
- Nội dung, tác giả, tác phẩm
- Bố cục văn bản
- Các mẫu tóm tắt
- Thực hành tiếng Việt trang 90
- Soạn văn 8 Cánh diều (cả năm)
Câu hỏi thường gặp
Văn bản Nắng mới, áo đỏ và nét cười đen nhánh thuộc thể loại nào?
Đây là văn bản nghị luận văn học: người viết phân tích, đánh giá bài thơ Nắng mới của Lưu Trọng Lư bằng hệ thống luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng.
Vấn đề trọng tâm của văn bản là gì?
Làm rõ ý nghĩa, vẻ đẹp của ba chi tiết nắng mới, áo đỏ, nét cười đen nhánh, qua đó thấy được hồn thơ thành thực và tình cảm với mẹ trong bài thơ.
Ai là tác giả của văn bản nghị luận này?
Văn bản do Lê Quang Hưng viết, bàn về bài thơ Nắng mới của nhà thơ Lưu Trọng Lư.
Văn bản có dùng nhiều phép tu từ không?
Không. Là bài nghị luận nên sức thuyết phục đến từ lí lẽ, bằng chứng và cách phân tích; vì vậy nhận xét về việc dùng đa dạng phép tu từ là sai.