Trả lời nhanh
Mời trầu là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Nôm của Hồ Xuân Hương. Bà mượn miếng trầu nhỏ để bày tỏ khát vọng hạnh phúc lứa đôi và lòng chung thuỷ. Bài thơ cũng thể hiện cái tôi chủ động, táo bạo của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nghệ thuật nổi bật là ngôn ngữ dân gian, thành ngữ và hình ảnh trầu – cau – vôi.
Văn bản bài thơ
Bài thơ chỉ có bốn câu, rất ngắn nhưng chứa nhiều tầng nghĩa:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
Muốn học tốt bài này, em nên đọc chậm vài lần. Chú ý giọng điệu: câu đầu khiêm nhường, câu hai tự tin, câu ba dịu dàng, câu cuối dứt khoát.
I. Tìm hiểu về tác giả Hồ Xuân Hương
- Năm sinh, năm mất: chưa xác định được chính xác. Bà sống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.
- Quê quán: theo tài liệu lưu truyền, bà quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bà sống chủ yếu ở kinh thành Thăng Long và có ngôi nhà gần Hồ Tây, tương truyền tên là Cổ Nguyệt Đường.
- Cuộc đời: nhiều éo le. Bà hai lần lấy chồng đều làm lẽ, hạnh phúc không trọn vẹn. Chính trải nghiệm này làm nên tiếng thơ đầy thương cảm với người phụ nữ.
- Sự nghiệp: để lại nhiều bài thơ Nôm và một số bài thơ chữ Hán (tập Lưu hương kí). Bà được gọi là “Bà chúa thơ Nôm”.
Phong cách thơ
- Là nhà thơ nữ viết về phụ nữ, vừa trào phúng vừa trữ tình.
- Đề cao vẻ đẹp, khát vọng của người phụ nữ và đồng cảm với số phận của họ.
- Ngôn ngữ đậm chất dân gian: dùng thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Lưu ý: không nên ghi những con số không có căn cứ về ngày sinh, năm mất của bà vào bài làm. Cứ viết “chưa rõ năm sinh, năm mất” là đúng nhất.
II. Tìm hiểu chung về tác phẩm
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Thể thơ | Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (4 câu, mỗi câu 7 chữ) |
| Ngôn ngữ | Chữ Nôm |
| Gieo vần | Vần “ôi” ở cuối các câu 1, 2, 4: hôi – rồi – vôi |
| Phương thức biểu đạt chính | Biểu cảm |
| Hoàn cảnh sáng tác | Không có tư liệu xác thực về thời điểm cụ thể, chỉ biết bài thơ thuộc thời của tác giả |
| Nhân vật trữ tình | Người phụ nữ tự xưng “Xuân Hương” |
Bố cục: khai – thừa – chuyển – hợp
Thất ngôn tứ tuyệt thường có bố cục bốn phần, mỗi câu một phần.
- Câu 1 (khai): giới thiệu miếng trầu nho nhỏ, giản dị.
- Câu 2 (thừa): nhân vật xưng tên và nói rõ miếng trầu do chính mình têm.
- Câu 3 (chuyển): lời gửi gắm về duyên phận, mong tình cảm thêm đằm thắm.
- Câu 4 (hợp): lời nhắn nhủ, cảnh báo đừng bạc bẽo.
Xem thêm bố cục chi tiết tại: Bố cục bài Mời trầu – Cánh Diều.
III. Phân tích chi tiết từng câu thơ
1. Hai câu đầu: miếng trầu và cái tôi của người mời
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi”. Hai chữ “nho nhỏ” gợi một thứ giản dị, không sang trọng. Đó là lời nói khiêm nhường, cũng là cách nói duyên của người con gái. “Hôi” ở đây hiểu theo nghĩa mùi hăng nồng đặc trưng của trầu mới têm, không phải mùi khó chịu.
“Này của Xuân Hương mới quệt rồi”. Người mời xưng thẳng tên mình, một cách rất thẳng thắn, khác với dáng vẻ e ấp của người phụ nữ xưa. Chữ “này” là lời mời trực tiếp, thân mật như lời nói thường ngày. Chữ “quệt” (quệt vôi vào lá trầu) là động tác dân dã, gần gũi. Nhờ vậy miếng trầu trở nên đời thường mà vẫn đầy ý nghĩa.
Điều đáng chú ý: chủ động mời trầu là chủ động bày tỏ tình cảm. Trong xã hội phong kiến, đây là điều táo bạo. Qua hai câu thơ, ta thấy cái tôi cá nhân rõ nét của nữ sĩ.
2. Hai câu sau: khát vọng duyên tình và lời nhắn nhủ
“Có phải duyên nhau thì thắm lại”. “Duyên” là chữ quen thuộc trong ca dao về tình yêu. Trầu, cau, vôi khi nhai cùng nhau sẽ cho màu đỏ thắm. Vì thế “thắm” vừa chỉ màu đỏ của trầu, vừa chỉ tình cảm đậm đà. Câu thơ có thể hiểu: nếu hai người đã có duyên với nhau thì xin hãy gắn bó thắm thiết.
“Đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Câu này dùng thành ngữ dân gian “xanh như lá, bạc như vôi”. Lá trầu xanh, vôi màu trắng. “Xanh” gợi sự nhạt nhẽo, thiếu sắc thắm; “bạc” gợi sự bạc bẽo, phụ tình. Dùng lời phủ định “đừng”, nhà thơ vừa khuyên nhủ vừa cảnh báo, đồng thời bộc lộ nỗi lo bị phụ tình. Đó cũng là nỗi lo thường trực của người phụ nữ thời phong kiến.
IV. Giá trị nội dung và nghệ thuật
Nội dung
- Thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi, mong tình yêu thuỷ chung.
- Khẳng định cái tôi chủ động, bản lĩnh của người phụ nữ.
- Ngầm phê phán thói bạc tình, bạc nghĩa, đồng thời trân trọng ước mơ của phụ nữ.
Nghệ thuật
- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn, vần chặt chẽ.
- Hình ảnh quen thuộc: trầu, cau, vôi, đều là biểu tượng của tình duyên trong văn hoá Việt.
- Ngôn ngữ giản dị, giàu chất dân gian: “nho nhỏ”, “này”, “quệt”, “xanh như lá, bạc như vôi”.
- Giọng điệu linh hoạt, vừa duyên dáng vừa quyết liệt.
V. Mẹo nhớ và lỗi sai thường gặp
- Mẹo nhớ bố cục: “Trầu – Tên – Duyên – Dặn”. Câu 1 là trầu, câu 2 là tên người mời, câu 3 là duyên, câu 4 là lời dặn.
- Mẹo nhớ vần: ba tiếng cuối câu 1, 2, 4 là hôi – rồi – vôi, cùng vần “ôi”. Câu 3 “lại” không hiệp vần.
- Lỗi 1: hiểu “hôi” là hôi thối. Cần hiểu theo nghĩa mùi hăng của trầu.
- Lỗi 2: nghĩ bài thơ chỉ nói về việc ăn trầu. Thực ra miếng trầu là phương tiện để nói chuyện tình duyên.
- Lỗi 3: chỉ viết “bài thơ nói về tình yêu” mà không nêu khát vọng chủ động của người phụ nữ. Như vậy sẽ thiếu ý chính.
VI. Dàn ý phân tích bài thơ
- Mở bài: giới thiệu Hồ Xuân Hương và bài thơ Mời trầu; nêu nhận định chung.
- Thân bài:
- Hai câu đầu: miếng trầu nho nhỏ, lời mời thân mật, cái tôi táo bạo.
- Hai câu sau: khát vọng duyên thắm, lời nhắn đừng bạc bẽo.
- Nghệ thuật: thể thơ, ngôn ngữ dân gian, hình ảnh biểu tượng.
- Kết bài: khẳng định giá trị bài thơ và tài năng “Bà chúa thơ Nôm”.
VII. Đoạn văn mẫu
Có thể viết như sau: Trong bài thơ Mời trầu, Hồ Xuân Hương mượn miếng trầu nhỏ để nói lên khát vọng tình yêu. Hai câu đầu, nhà thơ tự giới thiệu miếng trầu “nho nhỏ” và xưng tên “Xuân Hương” với giọng mời thân mật. Cách nói ấy cho thấy một người phụ nữ dám chủ động bày tỏ lòng mình. Hai câu sau, bà mong “duyên nhau” sẽ “thắm lại” và nhắn nhủ “đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Lời nhắn nhẹ nhàng mà thấm thía, vừa là lời mong, vừa là lời cảnh báo kẻ bạc tình.
VIII. Bài luyện tập có đáp án
Câu 1. Chỉ ra những tiếng gieo vần trong bài thơ.
Đáp án: hôi (câu 1), rồi (câu 2), vôi (câu 4). Đây là vần chân, cùng vần “ôi”.
Câu 2. Vì sao nhà thơ chọn hình ảnh “xanh như lá, bạc như vôi”?
Đáp án gợi ý: Lá trầu xanh và vôi trắng là hai thứ có trong miếng trầu, nên gần gũi với chủ đề. Thành ngữ này chỉ sự nhạt nhẽo, bạc bẽo trong tình cảm, nên rất hợp để nhắc người đối diện đừng phụ tình.
Câu 3. Việc nhân vật trữ tình xưng tên “Xuân Hương” cho thấy điều gì?
Đáp án gợi ý: Cho thấy sự tự tin, chủ động và cái tôi cá nhân mạnh mẽ của người phụ nữ, một nét mới so với quan niệm đương thời.
Tài liệu Ngữ văn 8 Cánh Diều liên quan
- Soạn bài Mời trầu – Cánh Diều Ngữ văn 8
- Các mẫu tóm tắt Mời trầu
- Tác giả – tác phẩm: Vịnh khoa thi Hương
- Tác giả – tác phẩm: Xa ngắm thác núi Lư
- Tác giả – tác phẩm: Cảnh khuya
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 8 – Cánh Diều
- Soạn văn 8 – Cánh Diều
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Soạn văn 8 Chân trời sáng tạo: mục lục soạn bài đủ Tập 1 và Tập 2; Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống lớp 8: dàn ý + 5 bài mẫu; Trưởng giả học làm sang (Mô-li-e): Tác giả, nội dung, bố cục, nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Mời trầu thuộc thể thơ nào?
Bài thơ thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, gồm 4 câu, mỗi câu 7 chữ, viết bằng chữ Nôm. Vần gieo ở cuối các câu 1, 2, 4 (hôi – rồi – vôi).
Bài thơ Mời trầu thể hiện nội dung gì?
Bài thơ thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi và mong muốn tình duyên thắm thiết, thuỷ chung của người phụ nữ. Đồng thời, nó cho thấy cái tôi chủ động, táo bạo của Hồ Xuân Hương.
Câu thơ “Đừng xanh như lá, bạc như vôi” có ý nghĩa gì?
Câu thơ dùng thành ngữ dân gian, nhắc người đối diện đừng nhạt nhẽo, bạc bẽo, phụ tình. Đây vừa là lời khuyên nhủ, vừa là lời cảnh báo kín đáo của nhân vật trữ tình.
Hồ Xuân Hương sinh và mất năm nào?
Hiện chưa xác định chính xác năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương. Chỉ biết bà sống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, nên trong bài làm cần ghi là chưa rõ.