Tập làm thơ sáu chữ, bảy chữ về thiên nhiên: 8 bài mẫu Ngữ văn 8

Trả lời nhanh

Để làm thơ sáu chữ hoặc bảy chữ về thiên nhiên, em chọn một cảnh cụ thể (sương sớm, mưa rào, biển, trăng…), giữ đúng số chữ mỗi dòng, gieo vần ở cuối các dòng 2 và 4 (hoặc 1, 2, 4), ngắt nhịp đều và thêm một cảm xúc riêng. Dưới đây là 8 bài mẫu tự sáng tác: 4 bài sáu chữ, 4 bài bảy chữ.

1. Yêu cầu của bài tập làm thơ sáu chữ, bảy chữ

Trong bài học về thơ sáu chữ, bảy chữ của Ngữ văn 8 (Cánh Diều), em được yêu cầu tập sáng tác một bài thơ ngắn theo thể thơ đã học. Đề tài thiên nhiên rất dễ viết vì em có sẵn hình ảnh quanh mình: bầu trời, cánh đồng, con sông, cơn mưa. Điều thầy cô chấm không phải là lời thơ cầu kỳ, mà là: đúng thể thơ, có vần, có hình ảnh và có cảm xúc thật.

Tiêu chí Thơ sáu chữ Thơ bảy chữ
Số chữ mỗi dòng 6 tiếng 7 tiếng
Ngắt nhịp thường gặp 2/2/2 hoặc 3/3 4/3 hoặc 2/2/3
Gieo vần Vần chân (cuối dòng), có thể liền hoặc cách Vần chân, thường dòng 1-2-4 hoặc 2-4
Số dòng nên viết 4–8 dòng 4–8 dòng

2. Các bước làm một bài thơ về thiên nhiên

  1. Chọn cảnh và cảm xúc: ví dụ “cơn mưa rào mùa hè” + “háo hức, mát lành”.
  2. Liệt kê 4–5 hình ảnh, âm thanh, màu sắc: mây đen, giọt đầu tiên, tiếng ào ào, cầu vồng.
  3. Chọn vần trước: tìm một nhóm từ cùng vần (reo – theo – chiều – nghèo) rồi đặt vào cuối dòng 2 và 4.
  4. Viết nháp rồi đếm tiếng: mỗi dòng đúng số chữ, đọc to xem nhịp có đều không.
  5. Thêm một chi tiết riêng: người thân, kỷ niệm, quê hương để bài thơ không chung chung.

3. Bốn bài thơ sáu chữ về thiên nhiên

Bài 1: Sáng thu (góc nhìn: cảnh làng quê)

Sương mai đậu trên lá cỏ
Long lanh như hạt ngọc tròn
Gió thu qua vườn khe khẽ
Mang hương cốm mới thơm ngon.
Trời cao xanh thẳm như lụa
Nắng thu dịu nhẹ như tơ
Em đi giữa mùa lúa chín
Thấy lòng thơm một giấc mơ.

Nhận xét: vần chân cách (tròn – ngon; tơ – mơ), nhịp 3/3 hoặc 2/2/2. Hình ảnh “hạt ngọc”, “lụa”, “tơ” là so sánh giúp cảnh vật mềm mại; mùi cốm, mùi lúa gợi thêm khứu giác.

Bài 2: Mưa rào (góc nhìn: diễn biến theo thời gian)

Mây đen kéo về đầu núi
Gió ngừng, lá cũng thôi reo
Giọt đầu rơi trên mái ngói
Rồi mưa đổ xuống ào theo.
Sân gạch loang loáng nước chảy
Đàn gà nép dưới mái hiên
Mưa tạnh, cầu vồng bảy sắc
Bắc ngang một khoảng trời hiền.

Nhận xét: bài thơ đi theo trình tự: trước mưa – mưa – sau mưa. Vần reo – theo, hiên – hiền. Phép nhân hoá “lá thôi reo”, “mưa đổ… ào theo” làm cảnh có hồn.

Bài 3: Biển quê hương (góc nhìn: thiên nhiên gắn với con người)

Biển xanh nối liền chân trời
Sóng reo ru thuyền ngoài khơi
Hải âu chao nghiêng cánh trắng
Mang theo vị mặn muôn nơi.
Cha đi biển từ tinh mơ
Mẹ đứng trông ra ngóng chờ
Biển cho cá đầy khoang lưới
Nuôi con khôn lớn bên bờ.

Nhận xét: khổ đầu tả biển, khổ sau chuyển sang con người. Vần liền ở khổ một (trời – khơi – nơi), khổ hai vần ơ (mơ – chờ – bờ). Em thấy: tả thiên nhiên gắn với cuộc sống sẽ có chiều sâu hơn.

Bài 4: Đêm trăng quê (góc nhìn: âm thanh và ánh sáng)

Trăng lên đầu ngọn tre già
Rắc vàng xuống mặt ao nhà
Dế mèn gảy khúc nhạc đêm
Gió đưa hương lúa về thềm.

Nhận xét: bài ngắn 4 dòng, vần AABB (già – nhà, đêm – thềm). Hai dòng đầu là hình ảnh (thị giác), hai dòng sau là âm thanh và hương (thính giác, khứu giác).

4. Bốn bài thơ bảy chữ về thiên nhiên

Bài 5: Xuân về

Gió xuân thổi nhẹ ấm lòng người
Mưa bụi li ti nắng rạng tươi
Nụ biếc đào hồng khoe sắc thắm
Én về chao liệng rộn tiếng cười.

Nhận xét: thể thất ngôn tứ tuyệt, gieo vần dòng 1-2-4 (người – tươi – cười). Các chữ thứ 2, 4, 6 xen kẽ thanh bằng – trắc – bằng (“xuân – nhẹ – lòng”) nên câu thơ nghe êm. Đây là quy tắc của thơ Đường luật; thơ hiện đại không bắt buộc, nhưng bắt chước được sẽ hay hơn.

Bài 6: Chiều thu

Chiều thu lá rụng phủ đường quê
Gió nhẹ hồ xanh sóng gợn về
Cúc nở vàng bên hiên cũ nhỏ
Nghe lòng man mác nhớ nẻo đê.

Nhận xét: vần ê (quê – về – đê). Từ láy “man mác” diễn tả nỗi nhớ nhẹ nhàng; dòng 3 là cảnh, dòng 4 là tình – cách kết “tả cảnh rồi ngụ tình” rất phổ biến.

Bài 7: Giữ màu xanh (góc nhìn: bảo vệ thiên nhiên)

Rừng xanh ai nỡ chặt cho đành
Lũ dữ tràn về quét xóm quanh
Hãy trồng thêm một hàng cây nhỏ
Để đất mai sau mãi sắc xanh.

Nhận xét: vần anh (đành – quanh – xanh). Bài thơ có mạch: nguyên nhân – hậu quả – lời kêu gọi. Câu hỏi tu từ ở dòng 1 thể hiện sự xót xa, dòng 3 là hành động cụ thể, vừa tầm học sinh.

Bài 8: Hè về

Hè về phượng đỏ rực sân trường
Ve hát râm ran khắp phố phường
Nắng rọi vàng ươm đồng lúa chín
Gió đưa hương thoảng nhớ quê hương.

Nhận xét: vần ương (trường – phường – hương). Màu sắc đỏ – vàng tạo cảm giác rực rỡ; âm thanh “râm ran” làm bài thơ sống động.

5. Lỗi thường gặp khi tập làm thơ

  • Thừa hoặc thiếu chữ: viết xong nhớ đếm từng tiếng; “sáu chữ” là sáu tiếng, không phải sáu từ.
  • Gieo vần ép: chọn từ cho có vần mà nghĩa lủng củng. Thà đổi vần còn hơn câu vô nghĩa.
  • Chỉ liệt kê cảnh vật: “hoa nở, chim hót, trời xanh” mà không có cảm xúc. Hãy thêm một dòng “tôi/em cảm thấy…”.
  • Dùng từ sáo mòn: “đẹp tuyệt vời”, “thật tuyệt”. Thay bằng hình ảnh cụ thể (nắng “rót mật”, sương “đậu”).
  • Lẫn nhịp: dòng này ngắt 3/3, dòng kia 2/4 làm bài mất nhạc điệu.

6. Bài tập tự luyện (có gợi ý)

Bài 1. Viết khổ thơ sáu chữ 4 dòng về “buổi sáng sau cơn bão”, vần ở dòng 2 và 4.

Gợi ý: “Sáng ra sân đầy lá gãy / Mặt trời lấp ló sau mây / Bé tìm chú chim lạc tổ / Thả về cành ướt hây hây.” (đếm đủ 6 tiếng; vần mây – hây).

Bài 2. Hãy chữa lỗi dòng thơ bảy chữ: “Mùa đông gió rét thổi về làng quê tôi”.

Đáp án: dòng có 9 tiếng, quá dài. Rút gọn thành “Đông về gió rét thổi qua làng” (7 tiếng).

Bài 3. Viết bài thơ bảy chữ 4 dòng về một loài cây ở sân trường, vần 1-2-4. Tự đặt ý, kiểm tra: đủ 7 tiếng, có một hình ảnh nhân hoá, có một dòng nêu cảm xúc.

7. Xem thêm các đề tập làm thơ khác

Lưu ý: các bài thơ trên chỉ để tham khảo cách làm. Khi nộp bài, em hãy sáng tác bằng cảm xúc và hình ảnh của chính mình để bài thơ có dấu ấn riêng.

Câu hỏi thường gặp

Thơ sáu chữ và thơ bảy chữ khác nhau thế nào?

Khác nhau ở số tiếng mỗi dòng: sáu chữ có 6 tiếng, thường ngắt nhịp 2/2/2 hoặc 3/3; bảy chữ có 7 tiếng, thường ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3. Cả hai đều thường gieo vần chân.

Bài thơ về thiên nhiên cần viết bao nhiêu dòng?

Bài tập ở lớp 8 thường chỉ cần 4–8 dòng. Quan trọng là đúng thể thơ, có vần, có hình ảnh thiên nhiên và một cảm xúc rõ ràng.

Làm sao để gieo vần dễ hơn?

Chọn trước một nhóm từ cùng vần (ví dụ: tròn – ngon – non – con), sau đó đặt chúng ở cuối dòng 2 và 4 rồi viết nội dung sao cho hợp nghĩa.

Có được chép thơ mẫu để nộp không?

Không nên. Thơ mẫu chỉ để học cách gieo vần, ngắt nhịp và chọn hình ảnh. Em nên tự sáng tác từ cảnh vật mình quan sát để bài có cảm xúc thật.