Trả lời nhanh
Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là bài hịch nghị luận kêu gọi tướng sĩ nâng cao cảnh giác, học tập Binh thư yếu lược và quyết tâm đánh giặc Nguyên – Mông. Bài văn nêu gương trung thần, tố cáo tội ác của giặc, phân tích phải trái, rồi nêu nhiệm vụ cấp bách. Qua đó thể hiện lòng yêu nước nồng nàn và ý chí bảo vệ Tổ quốc.
Thông tin nhanh về tác phẩm
| Mục | Nội dung cần nhớ |
|---|---|
| Tác giả | Trần Quốc Tuấn (1231?–1300), tước Hưng Đạo Đại Vương |
| Thể loại | Hịch – văn nghị luận thời trung đại |
| Phương thức biểu đạt | Nghị luận (kết hợp biểu cảm) |
| Hoàn cảnh | Viết trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai |
| Bố cục | 4 phần |
| Chủ đề | Lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí quyết chiến quyết thắng |
I. Tác giả Trần Quốc Tuấn
- Trần Quốc Tuấn (thường ghi 1231?–1300) là con của An Sinh Vương Trần Liễu, được phong Hưng Đạo Vương nên nhân dân quen gọi là Hưng Đạo Đại Vương.
- Ông là danh tướng kiệt xuất của nhà Trần, được vua giao chức Quốc công tiết chế – tổng chỉ huy quân đội trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông năm 1285 và 1288.
- Ông cũng là nhà quân sự có tư tưởng lớn: biên soạn Binh thư yếu lược (và được nhắc đến với Vạn Kiếp tông bí truyền thư) để dạy binh sĩ cách đánh giặc.
- Về già, ông lui về Vạn Kiếp (thuộc vùng Chí Linh, Hải Dương ngày nay) và mất tại đó. Nhân dân tôn ông là Đức Thánh Trần, lập đền thờ ở nhiều nơi.
Lưu ý: nhiều tài liệu ghi nhầm Đại Việt sử kí toàn thư là tác phẩm của Trần Quốc Tuấn. Đó là bộ sử do Ngô Sĩ Liên biên soạn (thế kỉ XV), không phải của ông. Khi làm bài, em chỉ cần nhớ Binh thư yếu lược.
II. Tìm hiểu chung về văn bản
1. Thể loại hịch
Hịch là thể văn nghị luận cổ, do vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào viết ra để cổ động, thuyết phục, kêu gọi đấu tranh chống giặc, đôi khi dùng để răn dạy người dưới quyền. Đặc điểm: lí lẽ chặt chẽ, tình cảm mãnh liệt, lời văn hùng hồn, thường dùng câu văn biền ngẫu (các vế đối nhau).
Mẹo nhớ: hịch = “lệnh kêu gọi bằng lí và tình”. Nó khác chiếu (vua ban bố chủ trương) và khác cáo (tuyên bố kết quả, ví dụ Bình Ngô đại cáo).
2. Hoàn cảnh sáng tác
Giữa thế kỉ XIII, quân Nguyên – Mông hai lần sang xâm lược Đại Việt và liên tục sai sứ sang hạch sách, nhũng nhiễu triều đình. Trước nguy cơ chiến tranh bùng nổ lần nữa, Trần Quốc Tuấn viết bài hịch để thức tỉnh tướng sĩ đang có người sao nhãng việc quân, ham vui riêng. Các tài liệu thường xác định bài hịch ra đời trước cuộc kháng chiến lần thứ hai; thời điểm cụ thể còn có chỗ chưa thống nhất, nên khi làm bài em chỉ cần viết “trước cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần hai”.
3. Bố cục 4 phần

- Phần 1 (từ đầu đến “lưu tiếng tốt”): nêu gương sáng trung thần nghĩa sĩ trong sử sách.
- Phần 2 (tiếp đến “cũng vui lòng”): tố cáo tội ác, sự ngang ngược của giặc và bày tỏ nỗi lòng của tác giả.
- Phần 3 (tiếp đến “có được không?”): nhắc ân tình chủ – tướng, phân tích phải trái, chỉ ra sai lầm của tướng sĩ.
- Phần 4 (còn lại): nêu nhiệm vụ cấp bách – học Binh thư, rèn quân, sẵn sàng chiến đấu.
Xem thêm cách chia và chốt ý ở bài bố cục: Bố cục bài Hịch tướng sĩ.
III. Nội dung chi tiết từng phần
1. Nêu gương sáng trong sử sách
Tác giả liệt kê những người đã hi sinh vì chủ: Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Cảo Khanh, Thân Khoái, Kính Đức, Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang… Họ thuộc nhiều tầng lớp: tướng, quan nhỏ, gia thần, thậm chí cả tướng của giặc.
Vì sao mở đầu bằng gương xưa? Đây là luận cứ làm nền cho lập luận: người xưa còn biết xả thân vì nghĩa lớn, huống chi các tướng sĩ nhà Trần được hưởng ân huệ. Việc dẫn nhiều gương ở nhiều vị trí khác nhau cho thấy lòng trung quân ái quốc là đạo lí chung, ai cũng có thể làm được. Nhắc cả tướng giặc như Cốt Đãi Ngột Lang cũng là cách thuyết phục: ngay kẻ thù còn biết trung thành với chủ mình.
2. Tố cáo tội ác của giặc và tâm sự của tác giả
Tội ác của giặc. Tác giả tả sứ giặc đi lại nghênh ngang trong kinh thành, “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng. Các hình ảnh “cú diều”, “dê chó” là ẩn dụ, vừa coi khinh vừa vạch trần bản chất tham lam, tàn bạo của kẻ xâm lược. Câu “Thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói” cho thấy nếu cứ nhượng bộ thì tai họa chắc chắn kéo đến.
Tâm sự của vị chủ soái. Nỗi lòng được diễn tả bằng nhịp văn dồn dập: quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Sau đó là cao trào của lòng căm thù: chỉ giận chưa thể “xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù”, và sẵn sàng hi sinh: dù trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác gói trong da ngựa cũng vui lòng. Cách nói phóng đại, giàu hình ảnh làm lời văn có sức lay động mạnh.
Ý nghĩa: đoạn này kết hợp chặt chẽ lí và tình – vừa chỉ ra hiểm họa thực tế, vừa phơi bày nỗi lòng người cầm quân nặng trĩu lo nước.
3. Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai
Trước hết, tác giả nhắc ân tình chủ – tướng bằng chuỗi câu đối xứng: không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì thăng chức, lương ít thì cấp bổng, đi thủy cho thuyền, đi bộ cho ngựa, lúc hoạn nạn cùng nhau sống chết, lúc bình thường cùng nhau vui cười. Cách đối xử ấy cho thấy tình cảm gắn bó như ruột thịt, đồng thời đặt ra trách nhiệm đáp nghĩa của bề tôi.
Sau đó là phần phê phán. Tướng sĩ thấy chủ nhục mà không lo, thấy nước nhục mà không thẹn, làm tướng phải hầu giặc mà không tức, nghe nhạc thái thường đãi yến sứ giặc mà không căm. Có người thì chọi gà, đánh bạc, ham ruộng vườn, quyến luyến vợ con, lo làm giàu, mê săn bắn, thích rượu ngon, thích tiếng hát. Tác giả cảnh báo: nếu giặc đến thì những thú vui ấy đều không giữ được, cơ nghiệp tiêu tan, gia quyến bị bắt, tổ tiên bị đào mồ, danh tiếng bị ô nhục muôn đời.
Điểm đặc sắc: tác giả không quát mắng mà đặt câu hỏi, đối chiếu “được – mất”, dùng giọng thân tình mà nghiêm khắc, đánh vào cả danh dự lẫn quyền lợi của người nghe.
4. Nhiệm vụ cấp bách
Tác giả chỉ rõ con đường đúng: lo luyện tập cung tên, học tập Binh thư yếu lược, quyết chiến thắng giặc để “bêu đầu Hốt Tất Liệt”, “làm rữa thịt Vân Nam Vương”. Ông nói rõ thái độ hai chiều: ai chuyên tập theo lời dạy là phải đạo thần chủ; ai khinh bỏ, trái lời là kẻ nghịch thù. Lời kết ngắn, dứt khoát như một mệnh lệnh, đồng thời đặt ra sự lựa chọn rõ ràng giữa hai con đường.
IV. Giá trị nội dung và nghệ thuật
Giá trị nội dung
- Phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết chiến quyết thắng của Trần Quốc Tuấn, cũng là của dân tộc ở thế kỉ XIII.
- Là lời kêu gọi đoàn kết, nâng cao cảnh giác, đặt lợi ích Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân.
Giá trị nghệ thuật
- Lập luận chặt chẽ: nêu gương → tố cáo → phân tích phải trái → hành động.
- Kết hợp hài hòa yếu tố chính luận và văn chương: lí lẽ sắc bén, cảm xúc mãnh liệt.
- Giọng văn hùng tráng; nhiều câu biền ngẫu, điệp cấu trúc, ẩn dụ, nói quá, hình ảnh giàu sức gợi.
V. Lỗi sai thường gặp khi học bài
- Nhầm Hịch tướng sĩ với Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi, thế kỉ XV, chống quân Minh). Nhớ: Hịch – chống Nguyên – Mông, Trần Quốc Tuấn.
- Ghi sai thể loại là “thơ” hay “chiếu”. Đúng là hịch, văn nghị luận.
- Chỉ kể tên người xưa mà không nêu tác dụng. Cần luôn nói: gương sáng làm luận cứ, khích lệ lòng trung quân ái quốc.
- Viết “Trần Quốc Tuấn viết bài hịch sau khi thắng giặc”. Thực tế bài viết trước kháng chiến lần hai để chuẩn bị tinh thần.
VI. Đoạn văn mẫu: phân tích tâm sự của Trần Quốc Tuấn
Trong Hịch tướng sĩ, đoạn bộc lộ tâm sự của vị Quốc công tiết chế là nơi cảm xúc dâng lên cao nhất. Bằng những vế câu ngắn, nhịp dồn dập như “quên ăn”, “vỗ gối”, “ruột đau như cắt”, “nước mắt đầm đìa”, tác giả cho ta thấy nỗi đau đớn, trăn trở đến mất ăn mất ngủ trước cảnh đất nước bị giặc lăng nhục. Nỗi đau ấy hóa thành lòng căm thù khi ông thề “xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu” quân thù, và hóa thành ý chí hi sinh khi sẵn sàng để trăm thân phơi nội cỏ, nghìn xác gói da ngựa. Các hình ảnh nói quá mạnh mẽ ấy không chỉ bày tỏ nỗi lòng riêng mà còn truyền lửa cho tướng sĩ. Bởi vậy, đoạn văn cho thấy một con người đặt vận mệnh Tổ quốc lên trên hết.
VII. Luyện tập có đáp án
- Vì sao tác giả không vào thẳng chuyện giặc mà mở đầu bằng gương Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng…?
Đáp án: để lấy gương trung nghĩa trong sử sách làm cơ sở lập luận, khích lệ lòng trung quân ái quốc, đồng thời gợi cho tướng sĩ tự so sánh với người xưa. - Câu “Thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói” dùng biện pháp nào, tác dụng gì?
Đáp án: so sánh kèm hình ảnh ẩn dụ; cho thấy nhượng bộ giặc chỉ nuôi thêm tham vọng của chúng và rước họa về sau, qua đó khơi lòng căm thù, cảnh giác. - Vì sao phần 3 vừa nhắc ân tình vừa phê phán thú vui riêng?
Đáp án: ân tình để nhắc trách nhiệm đáp nghĩa; phê phán để chỉ ra sai lầm. Có tình, có lí nên người nghe vừa cảm động vừa tự thấy mình cần thay đổi.
Tài liệu học tiếp
- Soạn bài Hịch tướng sĩ – Kết nối tri thức Ngữ văn 8
- Tóm tắt Hịch tướng sĩ
- Tác giả – tác phẩm: Nam quốc sơn hà
- Tác giả – tác phẩm: Chiếu dời đô
- Tác giả – tác phẩm: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 8 – Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 – Kết nối tri thức
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Soạn văn 8 Chân trời sáng tạo: mục lục soạn bài đủ Tập 1 và Tập 2; Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống lớp 8: dàn ý + 5 bài mẫu; Trưởng giả học làm sang (Mô-li-e): Tác giả, nội dung, bố cục, nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
Nội dung chính của bài Hịch tướng sĩ là gì?
Bài hịch kêu gọi tướng sĩ nâng cao cảnh giác, căm thù giặc, từ bỏ thú vui riêng, chăm học Binh thư yếu lược và sẵn sàng chiến đấu chống quân Nguyên – Mông, thể hiện lòng yêu nước và ý chí quyết thắng của Trần Quốc Tuấn.
Hịch tướng sĩ chia làm mấy phần?
Bài chia làm 4 phần: nêu gương sáng trong sử sách; tố cáo tội ác của giặc và bày tỏ nỗi lòng tác giả; phân tích phải trái, làm rõ đúng sai; nêu nhiệm vụ cấp bách và khích lệ tinh thần chiến đấu.
Hịch tướng sĩ thuộc thể loại gì, viết trong hoàn cảnh nào?
Văn bản thuộc thể hịch, một thể văn nghị luận thời trung đại. Bài được viết trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai, khi giặc liên tục sách nhiễu triều đình còn một số tướng sĩ chểnh mảng việc quân.
Tác phẩm tiêu biểu của Trần Quốc Tuấn là gì?
Binh thư yếu lược là tác phẩm quân sự tiêu biểu của ông, bên cạnh bài Hịch tướng sĩ. Đại Việt sử kí toàn thư không phải của Trần Quốc Tuấn mà do Ngô Sĩ Liên biên soạn.