Trả lời nhanh
Hịch tướng sĩ là bài hịch của Trần Quốc Tuấn viết khoảng năm 1285 trước cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai. Bài hịch nêu gương trung thần, vạch tội ác của giặc, phê phán thói hưởng lạc của tì tướng và kêu gọi học Binh thư yếu lược để quyết chiến quyết thắng. Bố cục gồm bốn phần, lập luận chặt chẽ, kết hợp lí lẽ với cảm xúc mãnh liệt.
Tìm hiểu chung
- Tác giả: Trần Quốc Tuấn (còn gọi Hưng Đạo Vương), danh tướng kiệt xuất của nhà Trần, người chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên.
- Hoàn cảnh sáng tác: quân Mông – Nguyên đang chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai. Cần củng cố tinh thần, ý chí của tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn viết bài hịch gửi các tì tướng dưới quyền.
- Thể loại: hịch là thể văn nghị luận cổ do vua chúa, tướng lĩnh viết để cổ vũ, thuyết phục, kêu gọi mọi người cùng hành động chống giặc hoặc thảo phạt kẻ có tội.
- Bố cục: bốn phần (xem ở phần Câu 2 sau khi đọc).
Em có thể đọc thêm:tóm tắt Hịch tướng sĩ, bố cục bài Hịch tướng sĩ và soạn văn 8 Kết nối tri thức.
Trước khi đọc
Câu 1. Kể tên một số vị tướng nổi tiếng trong lịch sử nước ta.
Em có thể nêu: Ngô Quyền (đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng), Lý Thường Kiệt (chỉ huy kháng chiến chống Tống), Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn), Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Quang Trung – Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp.
Câu 2. Vì sao quân Mông – Nguyên ba lần xâm lược nước ta đều thất bại?
- Toàn dân đoàn kết, từ vua quan đến dân thường cùng đánh giặc; quân đội nhà Trần có tinh thần quyết chiến.
- Có những vị tướng tài như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư và sự lãnh đạo sáng suốt của các vua Trần.
- Chiến lược sáng tạo: rút lui chiến lược “vườn không nhà trống”, tận dụng địa hình sông nước, đánh vào chỗ yếu về lương thực của giặc.
- Quân giặc từ xa tới, khó thích nghi với khí hậu, thiếu lương thực.
Trong khi đọc
- Điểm chung của các cặp nhân vật lịch sử được nêu tên: họ đều là những bề tôi trung thành, sẵn sàng hy sinh bản thân vì chủ, vì nước nên tiếng thơm lưu mãi trong sử sách.
- Mối quan hệ vua – tôi, chủ – tướng là cơ sở lập luận: tác giả muốn nói: đã là bề tôi thì phải biết hy sinh vì chủ, đó là đạo lí; từ đó đặt ra yêu cầu với tì tướng của mình.
- Lí lẽ và bằng chứng gợi cảm xúc: sự hống hách của sứ giặc, lòng căm giận của chủ tướng, tình nghĩa chủ – tướng (cho ăn, cho mặc, thăng chức, cấp bổng).
- Những việc tì tướng làm chưa đúng: đam mê chọi gà, cờ bạc, ruộng vườn, vợ con, săn bắn, rượu ngon, tiếng hát mà quên việc nước.
- Lí lẽ thuyết phục tì tướng: phân biệt rõ đường đúng – sai; chỉ có luyện binh thì mới thắng giặc, giữ được gia đình, danh tiếng.
Sau khi đọc
Câu 1. Mục đích viết bài hịch. Trần Quốc Tuấn viết để khích lệ lòng yêu nước, ý chí chiến đấu của tì tướng, chấn chỉnh những sai lệch trong hàng ngũ, thống nhất hành động và chuẩn bị chống giặc ngoại xâm.
Câu 2. Bố cục và vai trò từng phần.
- Phần 1 (từ đầu đến “đến nay còn lưu tiếng tốt”): nêu gương các trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ.
- Phần 2 (từ “Huống chi ta cùng các ngươi” đến “ta cũng vui lòng”): tố cáo sự ngang ngược của giặc, bày tỏ lòng căm thù và quyết tâm của chủ tướng.
- Phần 3 (từ “Các ngươi ở cùng ta” đến “phỏng có được không”): nhắc ân tình chủ – tướng, phê phán thói hưởng lạc và cảnh báo hậu quả nếu mất nước.
- Phần 4 (còn lại): nêu nhiệm vụ cấp thiết, khuyên học Binh thư yếu lược, chỉ rõ đường sống chết, tạo sức kêu gọi.
Câu 3. Điểm chung các cặp nhân vật và mục đích nêu. Họ là những cặp vua tôi, chủ tướng như Kỉ Tín với Cao Đế, Do Vu với Chiêu Vương, Kính Đức với Thái Tông… Điểm chung là lòng trung thành, sẵn sàng xả thân vì chủ. Nêu gương ấy, tác giả khơi gợi lòng tự trọng, đồng thời làm tiền đề để so sánh với tì tướng của mình.
Câu 4. Những điều được nhắc để khơi gợi cảm xúc. Đó là cảnh sứ giặc đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, vòi vĩnh của cải; nỗi đau đến mức bỏ ăn, mất ngủ của chủ tướng, chỉ hận chưa thể diệt thù; và ân tình chủ tướng nhiều năm gắn bó. Những điều ấy chạm vào lòng tự tôn dân tộc và lòng biết ơn của người nghe.
Câu 5. Bằng chứng và lí lẽ chứng minh tì tướng nghĩ và làm chưa đúng. Bằng chứng: có người mải chọi gà, đánh bạc, lo ruộng vườn, quyến luyến vợ con, ham săn bắn, rượu ngon, tiếng hát. Lí lẽ: những thú vui ấy không giúp ích gì khi giặc đến (cựa gà không đâm thủng áo giáp giặc, tiếng hát không làm giặc điếc tai…), còn mất nước thì tất cả đều mất.
Câu 6. Cách diễn đạt tăng sức tác động. Tác giả dùng câu văn đối xứng, điệp cấu trúc “hoặc có kẻ…”, hình ảnh giàu sức gợi (“uốn lưỡi cú diều”, “đem thân dê chó”), câu hỏi tu từ, cách xưng hô “ta – các ngươi” vừa gần gũi vừa nghiêm khắc. Giọng điệu linh hoạt: lúc xót xa, lúc căm giận, lúc chân thành, lúc mạnh mẽ răn đe.
Câu 7. Lí lẽ kêu gọi tì tướng rèn tập. Tác giả chỉ ra nếu mất nước thì thái ấp, bổng lộc, gia quyến, tổ tiên và thanh danh đều bị giày xéo. Ngược lại, chuyên tâm luyện tập theo Binh thư yếu lược thì đánh thắng giặc, giữ yên bờ cõi, danh thơm lưu muôn đời. Ai làm theo là đúng đạo thần chủ, ai bỏ sách thì là kẻ thù nghịch.
Câu 8. Bài học khi viết văn nghị luận. Cần xác định rõ mục đích, đối tượng; sắp xếp luận điểm theo trình tự hợp lí (nêu gương – phê phán – hành động); lí lẽ phải có bằng chứng; biết kết hợp lí trí với tình cảm; dùng ngôn từ có sức gợi.
Giá trị nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết chiến quyết thắng của Trần Quốc Tuấn; đồng thời là tiếng gọi tha thiết đến toàn quân.
- Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, lí lẽ xác đáng, bằng chứng thuyết phục; kết hợp nghị luận và biểu cảm; hình ảnh sinh động, giọng văn hùng hồn.
Mẹo nhớ và lỗi sai thường gặp
Nhớ mạch lập luận bằng bốn từ: Gương – Giặc – Giận – Giục (nêu gương, vạch tội giặc, giận trách thói sai lầm, giục học binh thư). Các lỗi hay gặp là nhầm hịch với cáo, chiếu, biểu (mỗi thể loại có mục đích khác nhau) và nhầm Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương) với vua Trần.
Luyện tập
- Hịch khác chiếu ở điểm nào? Gợi ý: hịch dùng để kêu gọi, cổ vũ chiến đấu; chiếu dùng để vua ban bố mệnh lệnh.
- Em ấn tượng nhất với chi tiết nào? Vì sao? Gợi ý: nêu một chi tiết (nỗi đau của chủ tướng, câu hỏi tu từ cuối phần ba…) và giải thích tác dụng.
- Viết 3–4 câu nêu bài học từ bài hịch cho thế hệ trẻ hôm nay. Gợi ý: biết trách nhiệm với đất nước, không chủ quan, chăm học tập, rèn luyện để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Câu hỏi thường gặp
Hịch tướng sĩ do ai sáng tác?
Bài hịch do Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương) viết khoảng năm 1285, trước cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai.
Mục đích của bài Hịch tướng sĩ là gì?
Khích lệ lòng yêu nước, chấn chỉnh tư tưởng của tì tướng, kêu gọi học Binh thư yếu lược và quyết tâm đánh thắng giặc.
Bài Hịch tướng sĩ có bố cục mấy phần?
Bốn phần: nêu gương trung thần; tố cáo giặc và bày tỏ lòng căm thù; phê phán thói hưởng lạc; nêu nhiệm vụ và kêu gọi hành động.
Nét đặc sắc nghệ thuật của bài hịch?
Lập luận chặt chẽ, kết hợp lí lẽ với tình cảm, câu văn đối xứng, hình ảnh sinh động và giọng điệu linh hoạt.