Trả lời nhanh
Đề Văn cuối kì 1 lớp 9 ở Hà Nội thường làm trong 90 phút, gồm hai phần: phần trắc nghiệm hoặc tiếng Việt khoảng 2 điểm và phần tự luận khoảng 8 điểm (đọc hiểu, nghị luận xã hội 10–12 câu, nghị luận văn học khoảng 5 điểm). Dưới đây là 3 đề mẫu tự biên soạn bám sát cấu trúc ấy, có đáp án và thang điểm. Cấu trúc cụ thể có thể khác nhau tuỳ trường, nên em hãy đối chiếu với đề cương của thầy cô.
Cấu trúc đề thi Ngữ văn học kì 1 lớp 9 thường gặp
Phạm vi học kì 1 thường xoay quanh thơ trung đại (Truyện Kiều), thơ hiện đại kháng chiến (Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính), truyện hiện đại (Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Chiếc lược ngà) và các nội dung tiếng Việt như phương châm hội thoại, khởi ngữ, thành phần biệt lập, liên kết câu. Trang này bám theo phạm vi quen thuộc ấy.
| Phần | Nội dung | Điểm gợi ý | Thời gian gợi ý |
|---|---|---|---|
| I. Trắc nghiệm / tiếng Việt | 4 câu về tác giả, tác phẩm, phương châm hội thoại, thành phần câu | 2,0 | 8–10 phút |
| II. Câu 5 (đọc hiểu + nghị luận xã hội) | Ngữ liệu ngắn, 2 câu hỏi nhỏ, 1 đoạn văn 10–12 câu | 3,0 | 25–30 phút |
| II. Câu 6 (nghị luận văn học) | Phân tích/cảm nhận một đoạn thơ, nhân vật hoặc tình huống truyện | 5,0 | 45–50 phút |
Mẹo phân bổ: dành 5 phút cuối để rà lỗi chính tả, hình thức đoạn văn và chép lại ý chính cho câu 6. Bài nghị luận văn học thiếu dẫn chứng thường mất điểm nhiều nhất.
Đề mẫu số 1
Thời gian: 90 phút.
I. Trắc nghiệm (2,0 điểm)
Câu 1. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nằm ở phần nào của Truyện Kiều?
- A. Gặp gỡ và đính ước
- B. Gia biến và lưu lạc
- C. Đoàn tụ
- D. Lời mở đầu tác phẩm
Câu 2. Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu ra đời vào năm nào?
- A. 1945
- B. 1948
- C. 1954
- D. 1965
Câu 3. “Khi giao tiếp, đừng nói điều mình không tin là đúng hoặc không có bằng chứng xác thực” là yêu cầu của phương châm hội thoại nào?
- A. Phương châm quan hệ
- B. Phương châm về chất
- C. Phương châm về lượng
- D. Phương châm cách thức
Câu 4. Thành ngữ “ông nói gà, bà nói vịt” liên quan đến phương châm hội thoại nào?
- A. Phương châm cách thức
- B. Phương châm lịch sự
- C. Phương châm quan hệ
- D. Phương châm về lượng
II. Tự luận (8,0 điểm)
Câu 5 (3,0 điểm). Đọc đoạn thơ:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
a) Đoạn thơ trích từ tác phẩm nào, của ai? (0,5 điểm)
b) Hiểu thế nào về câu “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”? (1,0 điểm)
c) Từ nỗi nhớ cha mẹ của Thúy Kiều, hãy viết đoạn văn khoảng 10–12 câu nêu suy nghĩ của em về lòng hiếu thảo của học sinh hôm nay. (1,5 điểm)
Câu 6 (5,0 điểm). Phân tích vẻ đẹp tình đồng chí của những người lính trong bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu).
Đáp án và hướng dẫn chấm đề 1
| Câu 1 | Câu 2 | Câu 3 | Câu 4 |
|---|---|---|---|
| B | B | B | C |
- Câu 1 – B: Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, thuộc chặng lưu lạc.
- Câu 2 – B: “Đồng chí” viết đầu năm 1948, giữa kháng chiến chống Pháp, sau chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947. Các mốc khác không khớp với bối cảnh bài thơ.
- Câu 3 – B: Cụm “không có bằng chứng xác thực” là dấu hiệu của phương châm về chất (nói đúng sự thật). Phương châm về lượng bàn đến nói đủ, không thừa thiếu.
- Câu 4 – C: Mỗi người nói một chuyện khác nhau, không đúng đề tài giao tiếp, nên vi phạm phương châm quan hệ.
Câu 5.
- a) (0,5đ) Trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
- b) (1,0đ) Cảnh (thiên nhiên mênh mông) và tình (nỗi cô đơn, nhớ nhà) hoà quyện với nhau. Lòng Kiều như bị chia đôi: nửa hướng về cảnh trước mắt, nửa chìm trong nỗi nhớ người thân và thân phận lỡ làng. Câu thơ cho thấy cảnh vật được nhìn qua tâm trạng.
- c) (1,5đ) Đúng hình thức đoạn văn. Ý chính: hiếu thảo là biết ơn, kính trọng, chăm sóc cha mẹ; biểu hiện cụ thể của học sinh (chăm học, giúp việc nhà, nói lời lễ phép, quan tâm khi cha mẹ mệt); phê phán thái độ vô tâm; liên hệ bản thân.
Câu 6 – dàn ý gợi ý (5,0đ):
- Mở bài (0,5đ): giới thiệu Chính Hữu, bài thơ ra đời năm 1948, nêu vấn đề: tình đồng chí giản dị mà sâu sắc.
- Cơ sở của tình đồng chí (1,25đ): cùng xuất thân nông dân nghèo (“quê hương anh”, “làng tôi” nghèo); cùng lí tưởng, cùng sát cánh chiến đấu (“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”); từ xa lạ thành tri kỉ; từ “đồng chí” đứng riêng một dòng như tiếng gọi thiêng liêng.
- Biểu hiện (1,5đ): thấu hiểu tâm tư (nỗi nhớ ruộng nương, gian nhà không); chia sẻ gian khổ (cơn sốt rét, áo rách, chân không giày); truyền cho nhau hơi ấm bằng cái nắm tay.
- Sức mạnh và vẻ đẹp (1,25đ): hình ảnh “đầu súng trăng treo” kết hợp chất hiện thực (súng) và lãng mạn (trăng), biểu tượng cho tình đồng đội và lí tưởng cao đẹp.
- Kết bài (0,5đ): khẳng định giá trị, liên hệ tình đồng đội, tình bạn hôm nay.
Lưu ý chấm: bài chỉ kể lại thơ không phân tích tối đa 2,5–3,0 điểm; trích thơ chính xác mới được tính điểm dẫn chứng.
Đề mẫu số 2
Thời gian: 90 phút.
I. Trắc nghiệm (2,0 điểm)
Câu 1. Anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa Pa” làm công việc gì?
- A. Khảo sát địa chất ở vùng núi
- B. Trồng rừng trên đỉnh Yên Sơn
- C. Làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu
- D. Dẫn đường cho khách du lịch
Câu 2. Thành ngữ “ăn ốc nói mò” vi phạm phương châm hội thoại nào?
- A. Phương châm về chất
- B. Phương châm lịch sự
- C. Phương châm về lượng
- D. Phương châm quan hệ
Câu 3. Từ nào sau đây là từ láy?
- A. xinh đẹp
- B. đẹp đẽ
- C. tươi tốt
- D. nhớ thương
Câu 4. Trong câu “Về môn Văn, em đã ôn xong”, cụm từ “Về môn Văn” là thành phần nào?
- A. Chủ ngữ
- B. Trạng ngữ
- C. Khởi ngữ
- D. Thành phần tình thái
II. Tự luận (8,0 điểm)
Câu 5 (3,0 điểm). Cho tình huống: Một bạn lớp trưởng thường xuyên nhận nhiệm vụ nhưng hay bỏ dở giữa chừng, viện cớ “việc nhỏ, không ai để ý”.
a) Câu nói của bạn ấy cho thấy thái độ gì với công việc? (0,5 điểm)
b) Chỉ ra một thành phần biệt lập trong câu “Có lẽ, bạn ấy chưa hiểu hết trách nhiệm của mình” và gọi tên. (0,5 điểm)
c) Viết đoạn văn 10–12 câu bàn về ý thức trách nhiệm với công việc, có liên hệ nhân vật anh thanh niên ở “Lặng lẽ Sa Pa”. (2,0 điểm)
Câu 6 (5,0 điểm). Cảm nhận về diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” (Kim Lân) khi nghe tin làng mình theo giặc.
Đáp án và hướng dẫn chấm đề 2
| Câu 1 | Câu 2 | Câu 3 | Câu 4 |
|---|---|---|---|
| C | A | B | C |
- Câu 1 – C: anh làm một mình trên đỉnh núi cao, đo gió, mưa, nắng, dự báo thời tiết. Phương án B, A, D đều không khớp với công việc ghi trong truyện.
- Câu 2 – A: nói mò là nói không có căn cứ, trái với phương châm về chất.
- Câu 3 – B: “đẹp đẽ” láy phụ âm đầu; xinh đẹp, tươi tốt, nhớ thương là từ ghép. Mẹo: thử tách từng tiếng, nếu cả hai tiếng đều có nghĩa rõ ràng thì thường là từ ghép.
- Câu 4 – C: khởi ngữ nêu đề tài của câu, đứng trước chủ ngữ và có thể thêm “về, đối với”.
Câu 5.
- a) Thái độ thiếu trách nhiệm, coi nhẹ công việc, làm việc đối phó.
- b) “Có lẽ” là thành phần tình thái (thể hiện độ tin cậy của nhận định).
- c) Ý chính: trách nhiệm là làm tròn việc được giao dù lớn hay nhỏ; anh thanh niên làm việc đều đặn giữa núi cao vắng người, không cần ai kiểm tra vẫn làm tốt; ý thức trách nhiệm tạo nên uy tín và giúp ích cộng đồng; liên hệ bản thân (trực nhật, làm bài tập nhóm đúng hạn).
Câu 6 – dàn ý (5,0đ):
- Mở bài: Kim Lân, truyện “Làng” viết thời kháng chiến chống Pháp, nêu vấn đề tâm trạng ông Hai.
- Lúc nghe tin: sững sờ, nghẹn đắng, cổ như có vật chặn, da mặt tê rân rân; xấu hổ, cúi gằm mặt đi.
- Những ngày sau đó: ám ảnh, sợ hãi, không dám ra ngoài; bị mụ chủ nhà đuổi khéo, bế tắc khi nghĩ đến cảnh phải quay về làng; đau đớn nhưng dứt khoát “làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”; trò chuyện với đứa con như một cách khẳng định lòng trung thành với kháng chiến.
- Khi tin cải chính: vui sướng, đi khoe nhà bị giặc đốt – niềm vui chân thật của người nông dân yêu nước.
- Nghệ thuật: miêu tả nội tâm, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại sinh động.
- Kết bài: tình yêu làng gắn liền với tình yêu nước.
Đề mẫu số 3
Thời gian: 90 phút.
I. Trắc nghiệm (2,0 điểm)
Câu 1. Tác giả truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là ai?
- A. Nguyễn Thành Long
- B. Kim Lân
- C. Nguyễn Quang Sáng
- D. Nguyễn Khải
Câu 2. Người kể chuyện trong “Chiếc lược ngà” kể theo ngôi nào?
- A. Ngôi thứ nhất, là bác Ba, người bạn của ông Sáu
- B. Ngôi thứ nhất, là bé Thu
- C. Ngôi thứ ba, hoàn toàn khách quan
- D. Ngôi thứ nhất, là chính ông Sáu
Câu 3. Chiếc lược ông Sáu làm cho con được làm từ vật liệu nào?
- A. Gỗ quý
- B. Sừng trâu
- C. Ngà voi
- D. Xương động vật
Câu 4. Câu nào dưới đây chứa thành phần cảm thán?
- A. Trời ơi, sao con đau lòng thế!
- B. Chắc là trời sắp mưa.
- C. Theo tôi, bài này khó.
- D. Thưa bác, cháu đến rồi ạ.
II. Tự luận (8,0 điểm)
Câu 5 (3,0 điểm). a) Tóm tắt truyện “Chiếc lược ngà” trong khoảng 6–8 dòng. (1,5 điểm) b) Viết đoạn văn 10–12 câu về vai trò của tình cảm gia đình đối với mỗi người. (1,5 điểm)
Câu 6 (5,0 điểm). Phân tích hình ảnh những chiếc xe không kính và người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật).
Đáp án và hướng dẫn chấm đề 3
| Câu 1 | Câu 2 | Câu 3 | Câu 4 |
|---|---|---|---|
| C | A | C | A |
- Câu 1 – C: Nguyễn Thành Long viết “Lặng lẽ Sa Pa”, Kim Lân viết “Làng”, nên A, B sai.
- Câu 2 – A: người kể xưng “tôi” chứng kiến câu chuyện, là bạn của ông Sáu, giúp câu chuyện chân thực.
- Câu 3 – C: ông Sáu dồn công sức cưa từng chiếc răng lược từ mảnh ngà voi.
- Câu 4 – A: “Trời ơi” bộc lộ cảm xúc, là thành phần cảm thán; B là tình thái, C là phần phụ chú nguồn tin (tình thái), D là gọi – đáp.
Câu 5a (1,5đ): đủ các sự việc chính: ông Sáu đi kháng chiến, về thăm nhà, bé Thu không nhận cha; đến lúc chia tay mới thốt lên “ba”; ông làm cây lược ngà tặng con; ông hi sinh, nhờ bạn trao lược cho Thu. Tóm tắt ngắn gọn, đúng trình tự.
Câu 5b (1,5đ): gia đình là chỗ dựa tinh thần, nơi hình thành nhân cách; liên hệ cảnh cha con ông Sáu; kêu gọi trân trọng gia đình.
Câu 6 – dàn ý (5,0đ):
- Mở bài: Phạm Tiến Duật, nhà thơ trẻ thời chống Mĩ, bài thơ viết năm 1969 với hình ảnh độc đáo.
- Chiếc xe: bị bom giật vỡ kính, trần trụi, méo mó nhưng vẫn lăn bánh ra tiền tuyến, tố cáo chiến tranh.
- Người lính lái xe: ung dung, hiên ngang, tinh thần lạc quan, biến khó khăn thành niềm vui (gió, bụi, mưa); tình đồng đội gắn bó như một gia đình; ý chí giải phóng miền Nam.
- Nghệ thuật: giọng thơ tự nhiên, gần văn xuôi, ngôn ngữ đời thường, hình ảnh thực mà giàu chất thơ.
- Kết bài: khẳng định vẻ đẹp thế hệ trẻ thời chống Mĩ.
Lỗi sai thường gặp khi làm đề Văn cuối kì
- Viết đoạn văn nghị luận xã hội thành bài dài nhiều đoạn, hoặc ngắt xuống dòng giữa chừng. Đề yêu cầu đoạn văn thì chỉ viết một đoạn, có câu mở – thân – kết.
- Nhầm tác giả, tác phẩm (ví dụ nhầm Nguyễn Thành Long với Kim Lân). Hãy lập bảng tác giả – tác phẩm – năm – thể loại khi ôn.
- Nghị luận văn học chỉ kể lại nội dung, không phân tích từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ.
- Dẫn thơ sai chữ, sai dòng. Học thuộc kĩ những câu thơ then chốt.
Kế hoạch tự luyện trong 2 tuần
- Ngày 1–4: ôn tiếng Việt (phương châm hội thoại, khởi ngữ, thành phần biệt lập, liên kết câu) và làm trắc nghiệm.
- Ngày 5–10: mỗi ngày một tác phẩm, viết dàn ý, sau đó viết một đoạn phân tích 10–12 dòng.
- Ngày 11–14: làm trọn vẹn một đề trong 90 phút, đối chiếu đáp án và tự chấm.
Em có thể ôn tiếp với các trang sau: Đề cương ôn tập học kì 1 Ngữ văn lớp 9, Bộ 30 đề thi học kì 1 Ngữ văn 9 có đáp án, Bộ 30 đề thi học kì 1 Ngữ văn lớp 9 có ma trận, Bộ 10 đề thi Ngữ văn 9 Đà Nẵng và Bộ 10 đề thi Ngữ văn 9 Hồ Chí Minh.
Câu hỏi thường gặp
Đề thi Văn cuối kì 1 lớp 9 Hà Nội làm trong bao lâu?
Đề Ngữ văn cuối học kì 1 thường làm trong 90 phút, không kể thời gian phát đề. Tuy vậy mỗi trường có thể quy định khác nhau, em nên xem thông báo của nhà trường.
Đề Văn cuối kì 1 lớp 9 thường gồm những phần nào?
Thông thường gồm phần trắc nghiệm hoặc tiếng Việt khoảng 2 điểm và phần tự luận khoảng 8 điểm: đọc hiểu, nghị luận xã hội (đoạn văn 10–12 câu) và nghị luận văn học khoảng 5 điểm.
Đoạn văn nghị luận xã hội 10–12 câu viết thế nào cho đủ điểm?
Em viết một đoạn duy nhất, mở bằng câu nêu vấn đề, giải thích, bàn luận có dẫn chứng, liên hệ bản thân rồi kết bằng câu khái quát. Chú ý chính tả và đủ số câu theo yêu cầu.
Các đề trong trang này có phải đề thi chính thức của sở không?
Không. Đây là đề mẫu biên soạn theo cấu trúc và phạm vi kiến thức quen thuộc để em luyện tập, không phải đề thi chính thức của Sở hay trường.