Chất nào sau đây tan nhiều trong nước nóng? Giải thích và cách chọn đáp án

Trả lời nhanh

Trong các câu hỏi dạng này, chất tan nhiều trong nước nóng là chất rắn như muối ăn (NaCl), đường, KNO3. Các chất khí như CO2, O2 thì tan ít đi khi nước nóng lên. Vì vậy nếu đề cho muối ăn đứng cạnh các chất khí, đáp án là muối ăn.

Đề gốc của câu này thường có dạng “Chất nào sau đây tan nhiều trong nước nóng?”, trong đó muối ăn là một trong các phương án. Bài viết này không bịa lại phương án. Thay vào đó, thầy cô đưa ra quy tắc để em chọn đúng với mọi bộ phương án tương tự.

Nguyên tắc: nhiệt độ ảnh hưởng đến độ tan thế nào?

Độ tan của một chất là số gam chất đó hoà tan tối đa trong 100 g nước ở một nhiệt độ xác định để tạo dung dịch bão hoà. Độ tan thay đổi theo nhiệt độ:

  • Chất rắn: đa số tan nhiều hơn khi nhiệt độ tăng.
  • Chất khí: tan ít hơn khi nhiệt độ tăng (tan tốt hơn trong nước lạnh và khi áp suất cao).

Bảng số liệu để so sánh (làm tròn)

Chất Loại Ở 20 °C Ở 100 °C Xu hướng
Đường (saccarozơ) Rắn khoảng 200 g/100 g nước khoảng 480 g/100 g nước Tăng mạnh
KNO3 Rắn khoảng 32 g khoảng 246 g Tăng rất mạnh
Muối ăn NaCl Rắn khoảng 36 g khoảng 39 g Tăng rất ít
CO2, O2 Khí tan ít gần như không tan Giảm
Ca(OH)2 Rắn (ít tan) khoảng 0,17 g thấp hơn Giảm (ngoại lệ)

Vì sao muối ăn vẫn được chọn trong nhiều đề?

Muối ăn là chất rắn, nên khi nước nóng lên nó tan thêm một chút. Độ tan của NaCl tăng rất chậm (từ khoảng 36 g lên khoảng 39 g). Nhưng nếu các phương án còn lại là chất khí hoặc chất không tan thì muối ăn vẫn là lựa chọn đúng.

Trường hợp đề có cả đường hoặc KNO3, hai chất này tăng độ tan mạnh hơn nhiều, nên cần đọc kỹ câu hỏi “tan nhiều nhất”.

Cách loại trừ phương án sai

  1. Có khí (CO2, O2, N2, NH3…): loại ngay, vì khí tan ít hơn khi nóng. Ví dụ nước ngọt có ga để ngoài nắng sẽ nhanh “xì hơi” hơn.
  2. Chất không tan (cát, đá vôi CaCO3, dầu ăn): loại, vì nóng lên cũng không tan đáng kể.
  3. Còn chất rắn tan được: chọn chất rắn có độ tan tăng mạnh nhất, hoặc muối ăn nếu đề không có chất nào tốt hơn.

Lỗi sai thường gặp

  • Nghĩ “nóng thì cái gì cũng tan nhiều hơn”, quên mất chất khí.
  • Cho rằng NaCl tăng độ tan mạnh như đường. Thực tế NaCl gần như ít đổi theo nhiệt độ.
  • Quên ngoại lệ Ca(OH)2, vôi tôi tan ít hơn trong nước nóng.

Mẹo nhớ

Em nhớ câu: “Rắn thích nóng, khí thích lạnh”. Chất rắn muốn tan nhiều thì đun nóng. Chất khí muốn tan nhiều thì làm lạnh và nén.

Bài luyện tập

Câu 1. Vì sao mở chai nước ngọt có ga để ở nơi nóng thấy sủi bọt nhiều hơn chai để trong tủ lạnh?

Đáp án: Nhiệt độ cao làm độ tan của khí CO2 giảm, khí thoát ra khỏi nước thành bọt.

Câu 2. Ví dụ tự đặt: trong các chất sau, chất nào tan nhiều hơn khi tăng nhiệt độ: khí oxi, khí cacbonic, đường, khí amoniac?

Đáp án: Đường, vì là chất rắn. Ba chất còn lại là chất khí nên tan ít đi.

Câu 3. Ở 20 °C, 100 g nước hoà tan tối đa khoảng 31,6 g KNO3. Ở 100 °C là khoảng 246 g. Đun nóng dung dịch bão hoà từ 20 °C lên 100 °C thì hoà tan thêm được tối đa bao nhiêu gam KNO3?

Đáp án: 246 − 31,6 = 214,4 g.

Câu hỏi thường gặp

Chất khí có tan nhiều trong nước nóng không?

Không. Độ tan của chất khí giảm khi nhiệt độ tăng, nên khí như CO2, O2 tan tốt hơn trong nước lạnh.

Muối ăn tan trong nước nóng nhiều hơn nước lạnh không?

Có nhưng tăng rất ít: khoảng 36 g/100 g nước ở 20 °C và khoảng 39 g ở 100 °C.

Có chất rắn nào tan ít hơn trong nước nóng không?

Có, ví dụ Ca(OH)2 (vôi tôi) có độ tan giảm khi nhiệt độ tăng, nhưng đây là trường hợp ngoại lệ.

Độ tan của một chất là gì?

Là số gam chất đó hoà tan tối đa trong 100 g nước ở nhiệt độ xác định để tạo thành dung dịch bão hoà.