Hình tượng con người chinh phục thế giới trong Ông già và biển cả

Trả lời nhanh

Văn bản Hình tượng con người chinh phục thế giới trong “Ông già và biển cả” là bài nghị luận của Lê Lưu Oanh, in trong sách Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12 (NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, khoảng trang 179–183), được học ở Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo. Bài lấy ông lão đánh cá Xan-ti-a-gô trong truyện của Hê-minh-uây làm hình tượng con người dám đấu với thiên nhiên bằng kinh nghiệm, trí và lòng can đảm, vừa kiêu hãnh vừa cô độc. Bố cục nên chia hai phần: những khó khăn ông lão phải chịu, rồi thành quả và ý nghĩa của cuộc đấu.

Tác giả Lê Lưu Oanh

Lê Lưu Oanh giảng dạy ở khoa Ngữ văn, bộ môn Lí luận văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bài này thuộc phía người nghiên cứu đứng ngoài tác phẩm để bình, không phải truyện do chính tác giả viết. Vì thế khi làm bài, em tách hai người: Hê-minh-uây là tác giả truyện, Lê Lưu Oanh là người viết bài nghị luận mà sách giáo khoa đưa vào để học cách lập luận.

Ơ-ni-xtơ Hê-minh-uây là nhà văn Mỹ, nhận giải Nobel văn học năm 1954. Truyện vừa Ông già và biển cả in năm 1952. Nhân vật trung tâm là ngư dân Xan-ti-a-gô ở vùng biển Cuba. Truyện kể một chuyến ra khơi sau chuỗi ngày dài không bắt được cá. Ông câu trúng một con cá kiếm rất lớn, vật lộn nhiều ngày đêm, rồi trên đường về thì đàn cá mập xông tới, rỉa thịt đến khi thuyền chỉ còn bộ xương. Bài nghị luận không kể lại toàn bộ chuyến đi. Nó chọn một ý: trong cuộc vật ấy, con người hiện ra như kẻ chinh phục.

Thể loại, xuất xứ và phương thức biểu đạt

Thể loại: nghị luận văn học. Người viết nêu một nhận định về hình tượng, rồi dùng tình tiết và lời nghĩ của nhân vật làm dẫn chứng. Đây không phải truyện ngắn, cũng không phải bài ký.

Xuất xứ: bài in trong Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2013, tr. 179–183. Năm 1952 là năm truyện của Hê-minh-uây ra đời. Năm 2013 là năm in bài bình. Đừng gộp hai mốc thành một.

Phương thức biểu đạt: nghị luận. Có những câu kể rất ngắn về việc ông lão đói, mệt, thu dây, nhưng những câu ấy phục vụ lí lẽ, không nhằm dựng truyện mới. Nếu đề hỏi phương thức chính, em trả lời nghị luận.

Tóm tắt mạch nghị luận

Bài mở bằng vị trí của Hê-minh-uây và bằng chính kết cục nghiệt của truyện: con cá khổng lồ cuối cùng chỉ còn bộ xương. Từ đó người viết mới đi vào cuộc đấu. Ông lão là hình ảnh người chinh phục thiên nhiên. Muốn thắng một đối thủ lớn hơn mình rất nhiều, ông phải đem hết nghề biển: kinh nghiệm, sự tính toán và lòng dám chịu đau.

Bốn ô nối tiếp: hai ngày cá kéo thuyền, ngày thứ ba bắt được cá, cá mập để lại bộ xương, và ý chí trong bài nghị luận
Hình 1. Bắt được cá là thành quả giữa đường; bài nghị luận đọc cả đoạn cá mập như một phần của hình tượng.

Sang ngày thứ ba, con cá mệt dần. Ông lão cũng đã ở giới hạn của cơ thể: già, ít thức ăn, khát, hoa mắt, có lúc gần như không còn giữ được lòng kiêu hãnh. Bài nhấn rằng ông vẫn không bỏ cuộc. Cuộc đấu với ông không chỉ là kiếm miếng ăn. Đó còn là danh dự của người sống cả đời trên biển. Ông tự động viên bằng những câu rất ngắn, nói với chính tay, chân và cái đầu của mình: phải khỏe, phải tỉnh, phải đứng vững. Nghề của ông hiện ra ở thao tác cụ thể: thả dài dây, kéo dây, thu dây, không để con cá tuột.

Khi con cá chịu nằm trên mạn, đó là thành quả nhìn thấy được. Với ngư dân, cá càng lớn thì niềm kiêu hãnh càng rõ, nhất là sau hơn tám mươi ngày lênh đênh không có cá. Bài không dừng ở con cá. Xan-ti-a-gô một mình vừa bắt cá vừa chống cá mập được đọc thành biểu tượng rộng hơn: con người trên đường thực hiện một khát vọng lớn. Đồng thời ông vẫn là một người bình thường, yếu, đơn độc. Hai mặt này phải đi cùng nhau. Viết mỗi “người hùng bất khả chiến bại” là làm mất nửa sau của luận điểm.

Bố cục hai phần

Theo cách chia bám sát bài học, văn bản có hai phần:

  • Phần 1, từ đầu đến ý về kinh nghiệm của ông lão: những khó khăn của cuộc đấu, từ sức mạnh của con cá và của biển đến cơ thể đã quá mệt của người câu.
  • Phần 2, phần còn lại: thành quả ông nhận được, gồm việc bắt được cá kiếm, niềm vinh dự của nghề, và ý nghĩa biểu tượng khi ông vừa chinh phục vừa vẫn là một người trần trụi trước biển.

Mốc “kinh nghiệm của ông lão” là mốc nên giữ khi em học theo dàn ý này. Có người muốn tách đoạn cá mập thành một phần riêng. Cách đó không sai nếu em nói rõ vì sao: bắt được cá là thắng một hiệp, chống cá mập là hiệp sau, khi thiên nhiên lấy lại phần thịt. Nhưng trong bài làm, em chọn một cách chia rồi đi hết, đừng lấy mốc của cách hai phần mà đặt tên theo cách ba phần.

Phần 1 trả lời câu “ông phải trả giá gì”. Phần 2 trả lời câu “cuộc trả giá ấy được bài nghị luận gọi là chiến thắng kiểu gì”. Nắm hai câu này, em không lạc vào việc kể lại từng ngày trên biển.

Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

Nội dung. Bài khẳng định sức mạnh tinh thần và thể chất của con người lao động trước thiên nhiên. Xan-ti-a-gô không thắng vì phép màu. Ông thắng từng đoạn nhờ nghề, nhờ sự chịu đựng lặng lẽ và nhờ coi danh dự nặng như miếng cơm. Kết cục bộ xương không bị bài viết xóa đi. Chính vì con cá không còn nguyên, hình tượng mới sắc: con người có thể bị tước mất thành quả vật chất mà vẫn không nhận mình thua. Một số tóm tắt chép nhầm giá trị nội dung của văn bản khác trong cùng cụm, nói rằng bài bàn về trí tuệ nhân tạo. Bài này không nói về máy móc. Luận đề của nó là hình tượng con người trong Ông già và biển cả.

Nghệ thuật. Sức thuyết phục nằm ở cách xếp lí lẽ, không ở tính từ khen. Người viết đi từ khó khăn cụ thể đến một câu khái quát, dẫn chứng lấy từ việc làm và lời tự nhủ của ông lão chứ không lấy từ một lời bình chung chung. Có những câu của nhân vật rất ngắn, lặp cấu trúc mệnh lệnh với chính cơ thể mình. Bài dùng các câu ấy để chỉ sự cô đơn: không có ai nghe, ông phải tự ra lệnh cho đầu, cho chân, cho tay. Giọng nghị luận kính trọng nhưng không biến ông thành tượng đá. Câu kết của mạch ý vẫn để ông là “con người bình thường”. Đó là chỗ bài tránh được lối ca ngợi một chiều.

Khi trích, em chỉ cần một cụm ngắn rồi nói tác dụng. Ví dụ cụm ông tự gọi “đầu ơi” cho thấy cuộc nói chuyện duy nhất trên biển là cuộc nói với chính mình. Không chép cả đoạn văn nghị luận vào bài làm.

Luận điểm, mục đích và thái độ của người viết

Hệ thống luận điểm

Luận đề: hình tượng con người kiên định, mạnh mẽ trong việc chinh phục thế giới, nhìn qua ông lão đánh cá của Hê-minh-uây.

Luận điểm 1: những khó khăn ông lão phải đi qua. Lí lẽ: thiên nhiên ở đây có kích thước của một con cá kiếm và của biển đêm, trong khi người câu đã già, đói, khát, hoa mắt. Dẫn chứng là trạng thái kiệt sức sau hai ngày bị cá kéo, và việc ông vẫn xử lí dây câu như một ngư dân lành nghề. Lí lẽ tiếp: ông không bỏ cuộc vì coi đây là cuộc đấu cho cả danh dự. Dẫn chứng là những lời tự động viên, rất ngắn, lặp lại giữa lúc cơ thể muốn dừng.

Luận điểm 2: thành quả và tầm biểu tượng. Lí lẽ: bắt được con cá lớn, sau chuỗi ngày không có cá, là niềm kiêu hãnh của nghề, không chỉ là thức ăn. Dẫn chứng là tương quan giữa kích thước con cá và lòng tự trọng của ngư dân. Lí lẽ tiếp: đặt ông vào cuộc chống cá mập, một mình, ta thấy hình ảnh người đi theo khát vọng đến cùng, nhưng vẫn yếu và đơn độc. Dẫn chứng là kết cục chỉ còn bộ xương, đối chiếu với việc ông không gục. Hai dẫn chứng này phải được nói cả hai. Chỉ nói “ông thắng” mà im đoạn cá mập là chưa đúng bài.

Mục đích và thái độ

Mục đích của người viết là khẳng định ý chí kiên cường của “ông già” trước thử thách của “biển cả”, rồi mở ý ấy thành một cách hiểu về con người nói chung khi theo đuổi việc lớn. Thái độ là kính trọng, ngưỡng mộ, nhưng không sùng bái. Bài gọi ông là biểu tượng hùng vĩ và ngay sau đó nhắc ông vẫn bình thường, vẫn có lúc mất cả lòng kiêu hãnh. Em viết được sự kéo co ấy là đã chạm giọng của bài.

Cách học gọn: thuộc tên hai tác giả và hai mốc năm, thuộc luận đề một câu, mỗi luận điểm một dẫn chứng do chính em diễn lại, không học thuộc cả bài in năm 2013. Khi phân tích, luôn nối một hành động trên biển với một ý về con người. Kể thuyền, kể cá, kể mập mà không nói các chi tiết ấy chứng minh điều gì, bài sẽ thành văn kể chuyện.

Có thể đọc cùng các văn bản nghị luận khác trong Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo để thấy nhiều kiểu lập luận:

  • Tác giả – tác phẩm: Công nghệ AI của hiện tại và tương lai
  • Tác giả – tác phẩm: Lời tiễn dặn
  • Tác giả – tác phẩm: Tú Uyên gặp Giáng Kiều
  • Tác giả – tác phẩm: Người ngồi đợi trước hiên nhà
  • Tác giả – tác phẩm: Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu

Câu hỏi thường gặp

Bài Hình tượng con người chinh phục thế giới là thể loại gì, của ai?

Là văn bản nghị luận của Lê Lưu Oanh, bình truyện Ông già và biển cả của Hê-minh-uây. Bài in năm 2013, truyện in năm 1952. Hai mốc này không phải của cùng một người.

Bố cục bài chia thế nào?

Hai phần: từ đầu đến ý về kinh nghiệm của ông lão là những khó khăn; phần còn lại là thành quả và ý nghĩa biểu tượng. Có thể tách đoạn cá mập nếu em giải thích rõ và giữ nhất quán.

Giá trị nội dung của bài là gì?

Khẳng định ý chí con người trước thiên nhiên qua hình tượng ngư dân Xan-ti-a-gô: kiên cường, có nghề, coi trọng danh dự, nhưng vẫn yếu và đơn độc. Bài không bàn về trí tuệ nhân tạo.

Vì sao bắt được cá mà truyện vẫn còn bộ xương?

Bắt được cá kiếm là thắng cuộc đấu với con cá. Trên đường về, cá mập rỉa hết thịt. Bài nghị luận lấy chính nghịch lí ấy để nói ý chí không gắn với việc ôm trọn thành quả.

Thái độ của Lê Lưu Oanh với ông lão là gì?

Kính trọng và ngưỡng mộ, nhưng không biến ông thành người không biết mệt. Bài vẫn gọi ông là con người bình thường, cô độc.