Bài thơ Nhớ đồng (Tố Hữu): tác giả, nội dung, nghệ thuật – Ngữ văn 11

Trả lời nhanh

Nhớ đồng là bài thơ bảy chữ của Tố Hữu, viết năm 1939 khi ông bị giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế), sau này in trong tập Từ ấy. Bài thơ diễn tả nỗi nhớ da diết đồng quê và cuộc sống tự do của người thanh niên cách mạng trong tù, qua đó bộc lộ khát vọng tự do và lòng yêu đời, yêu nhân dân.

1. Tác giả Tố Hữu – những điều cần nhớ

  • Tên khai sinh: Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), bút danh Tố Hữu. Lưu ý: nhiều tài liệu chép nhầm năm mất là 2000, đúng là 2002.
  • Quê gốc: làng Phù Lai, nay thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế; lớn lên trong gia đình nhà nho nghèo, sớm được cha dạy làm thơ cổ và thấm đẫm dân ca xứ Huế.
  • Con đường cách mạng: giác ngộ lí tưởng từ rất trẻ, tham gia hoạt động thanh niên, bị thực dân Pháp bắt giam năm 1939, sau đó vượt ngục tiếp tục hoạt động. Về sau ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, đồng thời là nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng.
  • Điểm đặc biệt: đường thơ và đường cách mạng gắn liền nhau, mỗi tập thơ đánh dấu một chặng đường lịch sử.

Các tập thơ tiêu biểu

Tập thơ Giai đoạn Nội dung chính
Từ ấy 1937 – 1946 Niềm vui đón lí tưởng, tinh thần đấu tranh trong tù, khí thế cách mạng (chia ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng)
Việt Bắc 1946 – 1954 Cuộc kháng chiến chống Pháp, tình quân dân
Gió lộng 1955 – 1961 Xây dựng miền Bắc, hướng về miền Nam ruột thịt
Ra trận, Máu và hoa 1962 – 1977 Kháng chiến chống Mĩ, niềm tin chiến thắng
Các tập sau Sau 1977 Chiêm nghiệm về cuộc đời, con người

Phong cách thơ

  • Trữ tình – chính trị: cái riêng và cái chung hoà làm một; tình cảm cá nhân luôn gắn với lí tưởng.
  • Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn: nhìn con người và cuộc đời bằng niềm tin vào tương lai.
  • Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, đậm chất dân tộc: thể thơ truyền thống, từ ngữ, nhạc điệu quen thuộc với người Việt.

2. Tìm hiểu chung về bài thơ Nhớ đồng

2.1. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ được viết vào giữa năm 1939, lúc Tố Hữu bị giam trong nhà lao Thừa Phủ. Sau Cách mạng tháng Tám, bài thơ được đưa vào phần Xiềng xích của tập Từ ấy.

Lúc ấy ông mới mười chín tuổi, đang ở độ tuổi muốn sống, muốn cống hiến. Bị cách biệt với phong trào đang lên cao ngoài kia, người thanh niên ấy nhớ cánh đồng, nhớ con người lam lũ và nhớ cả chính mình ngày còn tự do. Đó là nguồn cảm xúc của toàn bài.

2.2. Thể loại, phương thức biểu đạt

  • Thể thơ: bảy chữ, nhịp điệu mềm mại, gần với giọng ngâm.
  • Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (kết hợp miêu tả hình ảnh làng quê).
  • Nhân vật trữ tình: người tù cộng sản trẻ tuổi, tự xưng “tôi”.

2.3. Bố cục

Theo cách chia quen thuộc trong sách Kết nối tri thức, bài thơ gồm ba phần. Muốn xem kĩ hơn, em có thể đọc bố cục bài Nhớ đồng Bố cục bài Nhớ đồng.

  1. Phần 1 (từ đầu đến “thiệt thà”): nỗi nhớ cuộc sống bên ngoài nhà tù – tiếng hò, đồng quê, những con người lao động hiền lành.
  2. Phần 2 (tiếp đến “ngát trời”): nhớ chính mình thời chưa vào tù, những ngày sống tự do giữa thiên nhiên, say mê lí tưởng.
  3. Phần 3 (còn lại): trở về hiện tại trong xà lim, nỗi nhớ càng nhói đau, thành khát vọng tự do mãnh liệt.

2.4. Tóm tắt nội dung

Một tiếng hò vang lên giữa trưa vắng làm trỗi dậy nỗi nhớ đồng quê của người tù. Từ tiếng hò ấy, cả không gian làng quê bình dị hiện về cùng những con người thật thà, chất phác. Rồi nhà thơ nhớ lại chính mình thuở còn tự do, hăm hở đi tìm lẽ sống. Cuối cùng, bị kéo về thực tại, cái nhớ hoá thành nỗi đau và lòng khát khao được trở lại với cuộc đời.

3. Phân tích chi tiết: ba tầng cảm xúc trong nỗi nhớ

3.1. Từ tiếng hò đến nỗi nhớ cuộc sống bên ngoài

Bài thơ mở bằng câu cảm thán “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ”, ngay lập tức đặt người đọc vào nỗi nhớ sâu thẳm. Điều làm nên sức gợi của đoạn đầu là tiếng hò, âm thanh lặp đi lặp lại như một sợi dây nối người tù với thế giới ngoài song sắt.

  • Không gian – thời gian: đồng vắng, buổi trưa vắng. Thời điểm và nơi chốn ấy làm tiếng hò thêm lẻ loi, hiu quạnh.
  • Tiếng hò hoà điệu với nỗi buồn: hiu quạnh của người dân lao động nghèo cộng hưởng với hiu quạnh của người bị giam cầm. Vì thế nhà thơ không chỉ nhớ đồng mà còn đồng cảm với nỗi vất vả của họ.
  • Điệp từ và câu hỏi, cảm thán: tiếng than khắc khoải nhấn mạnh cõi lòng hoang vắng của người xa cách với thế giới bên ngoài, nhưng cũng là nỗi hiu quạnh của một người tha thiết yêu đời.

Mẹo nhớ: tiếng hò → hiu quạnh → đồng cảm → nhớ da diết.

3.2. Nhớ về chính mình trước khi vào tù

Ở phần giữa, nhân vật trữ tình quay về quá khứ gần: những ngày tự do, đi giữa đồng ruộng buổi sớm, lòng tràn đầy hi vọng. Không gian nhớ gắn với buổi sớm mai – thời điểm của khởi đầu, của ánh sáng – nên nỗi nhớ mang màu sắc lãng mạn, đầy ước vọng chứ không bi luỵ.

  • Cảnh đồng quê hiện ra bình dị, thân thuộc, nhiều màu sắc và âm thanh.
  • Nhà thơ nhắc lại hành trình tìm kiếm lẽ sống, rồi gặp lí tưởng cách mạng; nỗi nhớ vì thế gắn liền với niềm say mê lí tưởng.

3.3. Trở về thực tại: nỗi nhớ hoá khát vọng

Cuối bài, mạch cảm xúc quay lại hiện tại. Tiếng hò xưa vẫn còn vọng lại, còn nhân vật trữ tình vẫn ở trong xà lim. Sự đối lập giữa cái bao la bên ngoài và cái chật hẹp bên trong khiến nỗi nhớ nhói lên, đồng thời thúc giục khát vọng tự do. Đây là điểm cho thấy chất thép sau chất tình: nhớ không để yếu mềm mà để thêm quyết tâm.

4. Giá trị nội dung và nghệ thuật

Giá trị Nội dung cần nêu
Nội dung Nỗi nhớ da diết cuộc sống bên ngoài của người chiến sĩ trẻ; khát vọng tự do, tình yêu quê hương, nhân dân, lòng say mê lí tưởng cách mạng.
Nghệ thuật Thể thơ bảy chữ giàu nhạc điệu; giọng điệu tâm tình; hình ảnh dân dã mà giàu sức gợi; điệp từ, so sánh, câu hỏi và câu cảm thán; kết cấu theo mạch nhớ (hiện tại – quá khứ – hiện tại).

5. Dàn ý ngắn khi viết đoạn văn về thế giới cảm xúc “nhớ đồng”

  1. Mở đoạn: giới thiệu bài thơ, tác giả, nêu cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ da diết.
  2. Thân đoạn: chọn 2–3 chi tiết (tiếng hò, hình ảnh con người lao động, buổi sớm mai) → chỉ ra các chi tiết ấy bổ sung cho nhau, cùng làm nên một thế giới cảm xúc thống nhất.
  3. Kết đoạn: khẳng định nỗi nhớ chính là biểu hiện của khát vọng tự do và tình yêu đời.

Em có thể tham khảo thêm các đoạn văn mẫu đoạn văn về thế giới cảm xúc Nhớ đồng và phần soạn bài Nhớ đồng.

6. Lỗi sai thường gặp khi học bài

  • Nhầm năm mất của Tố Hữu (đúng là 2002) và nhầm bài thơ với các bài viết sau này như Việt Bắc.
  • Nhầm phần của tập thơ: Nhớ đồng thuộc phần Xiềng xích trong Từ ấy, không phải Máu lửa hay Giải phóng.
  • Chỉ nói “nhớ đồng quê” mà quên rằng nỗi nhớ còn là nhớ người, nhớ chính mình và nhớ lí tưởng.
  • Coi bài thơ chỉ buồn: thực ra đằng sau nỗi hiu quạnh là sức sống, niềm hi vọng và khát vọng đấu tranh.

7. Câu hỏi luyện tập (có gợi ý đáp án)

Câu 1. Hoàn cảnh sáng tác ảnh hưởng thế nào đến cảm xúc của bài thơ?

Gợi ý: Bị giam trong nhà lao Thừa Phủ, tách biệt với phong trào, nhà thơ có nỗi nhớ tự do vô cùng mãnh liệt; nhớ đồng quê thực chất là nhớ cuộc sống tự do và hoạt động cách mạng.

Câu 2. Vì sao nhà thơ chọn “tiếng hò” làm điểm khởi đầu cho nỗi nhớ?

Gợi ý: Âm thanh dân dã, quen thuộc, có thể vượt qua tường nhà lao; nó vừa gợi đời sống lao động vừa làm bật lên cảm giác hiu quạnh, từ đó mở ra mạch nhớ toàn bài.

Câu 3. Chỉ ra điểm khác nhau giữa nỗi nhớ ở phần 2 và phần 3.

Gợi ý: Phần 2 hướng về quá khứ, nỗi nhớ ấm áp, đầy hi vọng, lãng mạn. Phần 3 trở về hiện tại, nỗi nhớ chuyển thành đau xót, thúc giục khát vọng được trở lại với cuộc đời.

8. Tài liệu Ngữ văn 11 liên quan

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu được viết trong hoàn cảnh nào?

Bài thơ được viết năm 1939 khi Tố Hữu bị thực dân Pháp giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế). Sau Cách mạng tháng Tám, bài thơ được in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.

Bài thơ Nhớ đồng thuộc thể thơ gì và có bố cục mấy phần?

Nhớ đồng viết theo thể thơ bảy chữ, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm. Bài thơ thường được chia ba phần: nhớ cuộc sống bên ngoài nhà tù, nhớ chính mình thời tự do, trở về thực tại với nỗi nhớ nhói lòng.

Nội dung chính của bài thơ Nhớ đồng là gì?

Bài thơ thể hiện nỗi nhớ da diết đồng quê và cuộc sống tự do của người chiến sĩ cộng sản trẻ trong tù, qua đó bộc lộ khát vọng tự do, tình yêu nhân dân, quê hương và lòng say mê lí tưởng.

Tố Hữu sinh và mất năm nào?

Tố Hữu (tên khai sinh Nguyễn Kim Thành) sinh năm 1920 và mất năm 2002. Một số tài liệu ghi nhầm năm mất là 2000, em cần chú ý khi làm bài.