Đi lấy mật – Đoàn Giỏi: nội dung, tác giả, tác phẩm Ngữ văn 7

Trả lời nhanh

Đi lấy mật là đoạn trích trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam (1957) của nhà văn Đoàn Giỏi. Truyện kể qua lời bé An, lần đầu theo tía nuôi và thằng Cò vào rừng U Minh “ăn ong”. Đoạn trích vẽ nên thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ, tri thức dân gian về nghề lấy mật và tình cảm gia đình ấm áp.

1. Tác giả Đoàn Giỏi

  • Đoàn Giỏi (1925 – 1989) quê ở Tiền Giang, là nhà văn gắn bó sâu sắc với vùng đất và con người Nam Bộ.
  • Ông viết cả truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết, trong đó nổi tiếng nhất là Đất rừng phương Nam.
  • Phong cách: giàu chất liệu đời sống miền Tây, giọng văn tự nhiên, vốn hiểu biết về sông nước, cây cỏ, muông thú rất phong phú.

Mẹo nhớ: nhắc đến Đoàn Giỏi, hãy nhớ ngay “Nam Bộ + rừng U Minh + cậu bé An”.

2. Xuất xứ và hoàn cảnh ra đời

Văn bản trích từ tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, xuất bản năm 1957. (Lưu ý: có tài liệu ghi nhầm là “Đất nước phương Nam”, em cần ghi đúng tên là Đất rừng phương Nam.)

Tiểu thuyết kể về cuộc phiêu lưu của cậu bé An trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Lạc cha mẹ, An được vợ chồng ông Hai (tía nuôi, má nuôi) cưu mang và cùng thằng Cò sống giữa vùng sông nước, rừng tràm. Nhờ đó An được mở mang hiểu biết về thiên nhiên và con người miền Tây.

  • Thể loại: đoạn trích truyện (tiểu thuyết).
  • Ngôi kể: thứ nhất – nhân vật “tôi” là bé An.
  • Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.

3. Nhân vật chính trong đoạn trích

Nhân vật Vai trò, đặc điểm
An (người kể chuyện) Cậu bé thành thị, tò mò, ham học hỏi; lần đầu đi “ăn ong” nên nhanh mệt nhưng rất say mê khám phá.
Tía nuôi Người từng trải, dày dạn rừng núi; ít nói nhưng quan tâm, tinh ý (nghe tiếng thở mà biết An mệt, cho cả nhóm nghỉ).
Thằng Cò Cậu bé quen thuộc với rừng, nhanh nhẹn, hơi tinh nghịch, hay “thử tài” bạn.
Con Luốc Chú chó săn trung thành, góp phần tạo không khí sinh động cho chuyến đi.

4. Tóm tắt nội dung

Sáng sớm, bé An cùng tía nuôi và thằng Cò vào rừng tràm đi “ăn ong”. Mỗi người mang một đồ nghề riêng: tía nuôi có túi, gùi và chà gạc; Cò đội thúng đựng nước, cơm nắm; An quảy chiếc gùi nhỏ. An háo hức nhưng chưa hình dung được “ăn ong” thế nào, vì cách gác kèo mà má nuôi kể không có trong sách vở.

Đi được một đoạn, An mệt, cả nhóm dừng lại nghỉ và ăn cơm nắm. Thằng Cò đố An tìm ra con ong mật; An nhìn mãi chỉ thấy muỗi, chuồn chuồn, mối cánh… Nhờ tía nuôi và Cò chỉ dẫn cách nhìn vào một khoảng trống giữa hai nhánh tràm, An mới nhận ra những “sứ giả của bình minh” bay thành chuỗi nhỏ, nhanh và rất khó thấy. Từ đó, câu chuyện dẫn người đọc theo dấu đàn ong để khám phá nghề lấy mật của người dân rừng U Minh.

5. Bố cục

  1. Phần 1 – Cảnh vào rừng buổi sáng: khung cảnh thiên nhiên và hình ảnh ba người cùng chú chó lên đường.
  2. Phần 2 – Suy nghĩ của An về “ăn ong”: sự tò mò, đối chiếu giữa kiến thức sách vở và kinh nghiệm dân gian.
  3. Phần 3 – Nghỉ chân và tập nhận biết ong mật: trò đố của Cò, sự chỉ dẫn của tía nuôi, cách theo dấu ong.

Cách chia này bám theo phần trích em được học; nếu sách giao thêm đoạn sau, em bổ sung phần “theo dấu ong, tìm kèo và lấy mật”.

6. Giá trị nội dung

  • Bức tranh thiên nhiên Nam Bộ: rừng tràm buổi sớm yên tĩnh, không khí mát lạnh, ánh sáng trong vắt – đẹp, tinh khôi và đầy sức sống.
  • Tri thức dân gian: nghề “ăn ong”, cách theo dấu đường bay của ong; cho thấy người dân miền rừng giỏi quan sát, giàu kinh nghiệm hơn cả những gì sách vở ghi lại.
  • Tình cảm con người: sự đùm bọc của gia đình nuôi, tình bạn hồn nhiên giữa An và Cò.
  • Bài học: biết học hỏi từ thực tế, trân trọng thiên nhiên và kinh nghiệm của người lao động.

7. Giá trị nghệ thuật

  • Ngôi kể thứ nhất giúp người đọc cùng “khám phá” với An, tạo cảm giác gần gũi, chân thực.
  • Miêu tả tinh tế bằng nhiều giác quan: thị giác (ánh sáng, đàn ong), thính giác (tiếng “eo… eo…”), xúc giác (không khí mát lạnh).
  • So sánh sinh động: đàn ong bay nối nhau “như một chuỗi hạt cườm”, “như nắm trấu bay”.
  • Ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ: tía, má, gùi, chà gạc, “mày – tao” thân mật…
  • Kết hợp kể, tả và những đoạn suy nghĩ của nhân vật nên lời văn vừa tự nhiên vừa giàu chất thơ.

8. Chi tiết thú vị nên nhớ

  1. Trò đố của thằng Cò: An nhầm ong mật với mối, chuồn chuồn – thể hiện sự non nớt của cậu bé thành phố và tài quan sát của Cò.
  2. Tía nuôi nghe tiếng thở mà biết An mệt: cho thấy sự quan tâm kín đáo.
  3. “Sứ giả của bình minh”: hình ảnh ẩn dụ đẹp, gợi ong là sinh linh nhỏ bé nhưng gắn với buổi sớm tinh khôi.

9. Lỗi thường gặp khi làm bài

  • Ghi sai xuất xứ thành “Đất nước phương Nam”.
  • Nhầm người kể chuyện là tía nuôi hoặc Cò; người kể là An (ngôi thứ nhất).
  • Chỉ kể lại cốt truyện mà quên nêu giá trị nghệ thuật (miêu tả, so sánh, ngôn ngữ Nam Bộ).
  • Trích dẫn quá dài; chỉ nên dẫn một hai câu tiêu biểu rồi phân tích.

10. Luyện tập (có đáp án gợi ý)

Câu 1. Vì sao An chưa hình dung được “ăn ong” dù đã học về loài ong ở trường?

Gợi ý: Sách vở chỉ cung cấp khái niệm chung về xã hội loài ong và lợi ích của ong, không nói đến cách gác kèo lấy mật của người dân rừng. Điều này cho thấy kinh nghiệm dân gian là nguồn tri thức quý.

Câu 2. Nêu tác dụng của hình ảnh so sánh “đàn ong bay nối nhau như một chuỗi hạt cườm”.

Gợi ý: Làm hiện lên hình dáng nhỏ bé, nhịp bay liền mạch, thẳng hàng của đàn ong; thể hiện cái nhìn tinh tế, giàu liên tưởng của An và tăng sức gợi cho câu văn.

Câu 3. Viết 3–4 câu nêu cảm nhận về nhân vật tía nuôi.

Gợi ý: Tía nuôi là người dày dạn kinh nghiệm rừng, điềm tĩnh, ít nói nhưng chu đáo. Ông quan sát và thấu hiểu An qua tiếng thở, chủ động cho nghỉ chân, rồi kiên nhẫn chỉ cách nhìn ong. Qua ông, tác giả thể hiện vẻ đẹp chất phác, nhân hậu của người dân Nam Bộ.

Xem thêm tài liệu

  • Soạn bài Đi lấy mật – Ngữ văn 7
  • Các mẫu tóm tắt Đi lấy mật
  • Cảm nhận về một chi tiết thú vị trong Đi lấy mật
  • Tác giả – tác phẩm Ngữ văn 7 Kết nối tri thức
  • Soạn văn 7 Kết nối tri thức

Câu hỏi thường gặp

Đi lấy mật là của tác giả nào?

Đi lấy mật là đoạn trích trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, xuất bản năm 1957.

Đoạn trích Đi lấy mật kể theo ngôi thứ mấy?

Ngôi thứ nhất. Người kể là cậu bé An, nên người đọc cùng nhân vật khám phá chuyến đi ăn ong.

Nội dung chính của Đi lấy mật là gì?

Đoạn trích kể chuyến đi ăn ong đầu tiên của An cùng tía nuôi và Cò, qua đó miêu tả thiên nhiên rừng Nam Bộ, tri thức dân gian về nghề lấy mật và tình cảm gia đình, bạn bè.

Đi lấy mật có những nét nghệ thuật nổi bật nào?

Ngôi kể thứ nhất, miêu tả tinh tế bằng nhiều giác quan, so sánh sinh động và ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ.