Vẽ sơ đồ ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong Bàn về đọc sách

Trả lời nhanh

Trong Bàn về đọc sách (Ngữ văn 7, tập 2, Chân trời sáng tạo, câu 2 trang 11), sơ đồ ý kiến lí lẽ bằng chứng có một ý lớn và ba ý nhỏ. Ý 1: đọc sách là con đường quan trọng của học vấn, vì tri thức nhân loại được ghi và truyền bằng sách. Ý 2: sách quá nhiều làm việc đọc khó, vừa khó chuyên sâu vừa dễ lạc hướng. Ý 3: không cốt đọc nhiều, phải chọn cho tinh và đọc cho kĩ; đọc một cuốn nhiều lần hơn là lướt qua nhiều cuốn.

Ba thành phần và cách nối

Sơ đồ cây: ý kiến ở trên, hai nhánh lí lẽ, mỗi lí lẽ nối xuống một bằng chứng
Hình 1. Mối quan hệ cơ bản: bằng chứng nâng lí lẽ, lí lẽ nâng ý kiến.

Em đừng vẽ ba cột nằm ngang không mũi tên. Đề hỏi mối quan hệ, nên sơ đồ phải cho thấy cái nào nâng cái nào. Quy ước dùng được cho mọi văn bản nghị luận:

  • Ý kiến là câu người viết muốn người đọc tin. Nó thường là câu chủ đề, có thể khen, chê, khuyên hoặc phủ nhận.
  • Lí lẽ trả lời “vì sao ý kiến ấy đứng được”. Lí lẽ vẫn là lời giải thích, chưa phải một việc cụ thể.
  • Bằng chứng là chuyện, con số, lời so sánh hoặc trường hợp nhìn thấy được. Bỏ bằng chứng đi thì lí lẽ thành câu nói suông.

Chiều mũi tên đi từ dưới lên: bằng chứng làm chỗ dựa cho lí lẽ, lí lẽ làm chỗ dựa cho ý kiến. Nếu văn bản có ý lớn và ý nhỏ, ý lớn ngồi trên cùng, mỗi ý nhỏ là một nhánh, dưới mỗi ý nhỏ mới đến lí lẽ và bằng chứng.

Dấu hiệu trong bài để khỏi lẫn: câu có “là”, “cần”, “phải”, “không nên” thường là ý kiến. Câu có “vì”, “bởi”, “một là”, “hai là” thường là lí lẽ. Câu có hình ảnh so sánh, một loại người cụ thể, một việc làm cụ thể thường là bằng chứng.

Sơ đồ cho Bàn về đọc sách

Văn bản của Chu Quang Tiềm bàn một việc trong đời sống: nên đọc sách thế nào. Em không chép lại cả bài. Em chỉ tách ba ý mà bài lần lượt nêu, rồi gắn lí lẽ và bằng chứng bằng lời của mình.

Ý kiến lớn: bàn về cách đọc sách cho ra học vấn, không phải bàn về một cuốn sách cụ thể.

Ý kiến nhỏ 1: Đọc sách là một con đường quan trọng của học vấn.

  • Lí lẽ: học vấn không phải của riêng một người. Đó là thành quả cả loài người góp lại, có sự phân công và sự tích lũy lâu dài.
  • Bằng chứng: sách là nơi cất giữ phần tri thức ấy. Người đến sau đọc sách là nói chuyện với người đi trước, khỏi phải tự làm lại từ đầu mọi thứ đã được ghi lại.

Ý kiến nhỏ 2: Đọc sách ngày càng không dễ, vì sách nhiều. Ý này có hai lí lẽ, bài xếp bằng “một là” và “hai là”.

  • Lí lẽ 2.1: sách nhiều khiến người đọc khó đi sâu. Bằng chứng: có người trẻ khoe đã đọc rất nhiều, nhưng cái đọng lại thì ít. Tác giả ví với việc ăn nhiều mà không tiêu, chỉ tổ hại. Từ thói khoe số lượng dễ sinh ra hư danh.
  • Lí lẽ 2.2: sách nhiều dễ làm lạc hướng. Bằng chứng: người đọc tham đủ thứ, mất thì giờ vào những cuốn không cơ bản, rồi bỏ lỡ những cuốn đáng đọc trong chính lĩnh vực mình theo.

Ý kiến nhỏ 3: Đọc không cốt lấy nhiều. Việc hệ trọng là chọn cho tinh và đọc cho kĩ.

  • Lí lẽ: giá trị nằm ở chiều sâu. Một cuốn được nghiền mới thành vốn của mình; mười cuốn lướt qua thì gần như chưa đọc.
  • Bằng chứng: đọc một quyển mười lần ích hơn đọc mười quyển mỗi quyển một lần theo kiểu lướt. Trong mỗi ngành, em ưu tiên những cuốn nền, đọc chậm, đọc có ghi.

Ba ý không ngang hàng về nhiệm vụ. Ý 1 nêu lợi ích, ý 2 nêu trở ngại, ý 3 nêu cách xử trí trở ngại ấy. Sơ đồ đẹp là sơ đồ cho thấy ý 3 trả lời đúng cái khó của ý 2, chứ không phải ba ý rời.

Vì sao đoạn khó khăn xếp “một là”, “hai là”

Câu hỏi ngay sau câu vẽ sơ đồ hỏi tác dụng của trình tự ấy. Em trả lời gọn: hai lí lẽ được đánh số nên không dính vào nhau. Người đọc thấy có đúng hai cái hại của “sách nhiều”, hại thứ nhất là không chuyên, hại thứ hai là lạc đường. Nếu viết lẫn một đoạn dài, người nghe dễ tưởng đó chỉ là một ý nói đi nói lại.

Thứ tự cũng có lí. Tác giả nói cái hại ở chính người đọc trước (đọc nhiều mà không tiêu hóa, dễ hư danh), rồi mới nói cái hại ở việc chọn sách (đọc nhầm chỗ, mất dịp đọc sách đáng đọc). Sơ đồ của em nên giữ đúng thứ tự này, đừng đảo lí lẽ 2.2 lên trước lí lẽ 2.1.

Một đoạn khác để tập tách

Đề có khi không dán sẵn văn bản Bàn về đọc sách mà chỉ nói “vẽ sơ đồ ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản”. Em dùng cùng một cách. Đoạn dưới đây là đoạn luyện, không nằm trong bài đọc:

Lớp nên giữ thói quen đọc mười phút đầu giờ. Mười phút ấy đủ để đầu óc dịu lại sau lúc chạy từ cổng vào lớp. Tuần trước, tổ 2 thử đọc truyện ngắn thay vì mở điện thoại; cuối tuần cô ghi nhận tổ ít bị nhắc chuyện nói chuyện riêng hơn hẳn tuần cũ. Đọc ngắn mà đều còn giúp em có một câu để kể khi vào bài mới, đỡ ngồi im vì chưa kịp nghĩ.

Tách như sau:

  • Ý kiến: lớp nên giữ thói quen đọc mười phút đầu giờ.
  • Lí lẽ 1: khoảng thời gian ngắn đó giúp em định thần sau khi vừa tới lớp. Bằng chứng: vừa chạy từ cổng vào, cần một nhịp chuyển.
  • Lí lẽ 2: thói quen này kéo theo nề nếp cả buổi. Bằng chứng: tổ 2 thử một tuần, cô nhận xét ít bị nhắc nói chuyện riêng hơn tuần trước.
  • Lí lẽ 3: đọc đều tạo vốn để vào bài. Bằng chứng: em có sẵn một câu để kể, không ngồi im vì chưa nghĩ ra.

Câu “tuần trước, tổ 2…” là bằng chứng vì có người, có việc, có kết quả so sánh. Câu “mười phút ấy đủ để đầu óc dịu lại” là lí lẽ, vì mới chỉ giải thích, chưa kể một việc đã xảy ra.

Lỗi khi vẽ sơ đồ

Lỗi hay gặp nhất là chép nguyên một đoạn dài vào ô “ý kiến”. Ô ý kiến chỉ chứa một câu khẳng định. Đoạn giải thích phải bị cắt xuống ô lí lẽ và ô bằng chứng.

Lỗi thứ hai là gọi mọi câu dẫn là bằng chứng. Lời giải thích “vì sách nhiều nên khó chuyên” vẫn là lí lẽ. Bằng chứng phải cụ thể hơn lí lẽ: hình ảnh ăn không tiêu, hình ảnh người khoe đã đọc rất nhiều mà giữ lại ít, hình ảnh người mất thời gian vào sách không cơ bản.

Lỗi thứ ba là bỏ mất một trong hai lí lẽ của ý “sách nhiều”. Đề hỏi mối quan hệ của các ý được nêu, nên thiếu một nhánh là sơ đồ chưa đủ. Em đếm trong bài có mấy lần chuyển ý rồi hãy vẽ, đừng vẽ đúng ba ô cho mọi bài.

Lỗi thứ tư là mũi tên ngược, từ ý kiến chỉ xuống như đang ra lệnh. Trong nghị luận, ý kiến là cái được chứng minh, không phải cái đi chứng minh cho bằng chứng. Em viết nhỏ bên cạnh mũi tên chữ “làm chỗ dựa” nếu sợ quên chiều.

Cách trình bày trên giấy

Giấy ô li ngang: kẻ ý lớn một ô ở giữa phía trên. Ba ý nhỏ xếp một hàng. Dưới ý 2 em chia hai cột vì ý này có hai lí lẽ. Mỗi bằng chứng một ô, viết một câu, không viết cả đoạn. Dùng một màu cho ý kiến, một màu cho lí lẽ, một màu cho bằng chứng. Không cần vẽ đẹp. Cần đúng tầng và đúng thứ tự bài.

Khi nộp vở, em thêm một câu dưới sơ đồ: “Ý 3 là cách xử trí hai cái khó đã nêu ở ý 2.” Câu ấy cho thầy cô thấy em không chỉ tách từ, mà còn thấy các ý níu nhau. Đó chính là “mối quan hệ” mà đề yêu cầu.

Câu hỏi thường gặp

Ý kiến, lí lẽ và bằng chứng khác nhau thế nào?

Ý kiến là điều người viết khẳng định. Lí lẽ là câu giải thích vì sao ý kiến ấy đúng. Bằng chứng là sự việc, con số hoặc hình ảnh cụ thể làm chỗ dựa cho lí lẽ.

Bàn về đọc sách có mấy ý kiến nhỏ?

Ba ý: đọc sách là con đường quan trọng của học vấn; đọc sách ngày càng không dễ vì sách quá nhiều; muốn đọc có ích thì phải chọn cho tinh và đọc cho kĩ.

Sơ đồ vẽ theo chiều nào?

Đặt ý kiến lớn ở trên, ý kiến nhỏ ở tầng giữa, lí lẽ rồi bằng chứng ở dưới. Mũi tên đi từ bằng chứng lên lí lẽ, rồi lên ý kiến, vì bằng chứng làm chỗ dựa.

Một lí lẽ có được nhiều bằng chứng không?

Được. Một ý kiến có thể có hai lí lẽ, mỗi lí lẽ một bằng chứng. Không gộp hai việc khác nhau vào một ô cho đỡ vẽ.

Câu 3 trang 11 hỏi điều gì?

Câu hỏi kế tiếp hỏi tác dụng của cách xếp lí lẽ theo thứ tự “một là”, “hai là” ở đoạn nói về khó khăn khi đọc. Cách xếp ấy làm từng lí lẽ tách bạch và dễ theo dõi.